Lễ hội đền Sượt
(15/07/2012 10:09:00 CH)

Trong tâm linh của nhiều người cho rằng Đức Thánh đền Sượt rất thiêng, những người đến cầu phúc, những điều tâm đức thường được phù hộ

I. VÀI NÉT VỀ ĐỀN SƯỢT VÀ NHÂN VẬT ĐƯỢC THỜ

Làng Thanh Cương có tên Nôm là làng Sượt. Trước năm 1945 thuộc tổng Hàn Giang, huyện Cẩm Giàng, tỉnh Hải Dương, nay thuộc phường Thanh Bình, thành phố Hải Dương. Cho đến nay, làng Sượt đang còn cụm di tích: Đền Sượt có tên chữ là Thanh Cương linh từ, đình Sượt và chùa Sượt. Đền Sượt và đình Sượt thờ Đức thánh Vũ Hữu có công phò vua Lê Chiêu Tông dẹp giặc Ai Lao giữ yên bờ cõi đất nước ở thế kỷ thứ XV.

Theo Thần tích thờ tại Thanh Cương linh từ, do Đông các Hàn Lâm đại học sĩ thần Nguyễn Bính biện soạn năm Hồng Phúc nguyên niên (1572), tóm tắt như sau:

Vào thời Lê, niên hiệu Hồng Đức, ở làng Long Thịnh, huyện Thọ Xương, phủ Thanh Đô, Ái Châu có người họ Vũ, tên Đạo lấy vợ là Phạm Thị Hoà, người làng Thanh Cương, huyện Cẩm Giàng, phủ Thượng Hồng, quận Hải Dương. Ông bà ở quê nội Thọ Xương - Thanh Hoá làm nghề thuốc, sinh sống đức độ, nhân hậu, song hiềm nỗi tuổi đã cao mà vẫn chậm đường con cái. Một hôm ông bà lập đàn cầu trời đất và bách thần, quả nhiên ứng nghiệm. Bà thụ thai. Sau 14 tháng, Thái Bà theo cha là Phạm Công về ở quê ngoại làng Thanh Cương. Sáng ngày 10 tháng 3 năm Nhâm Thìn, khi về đến đầu làng, bên giếng đất, Thái Bà sinh một con trai, mặt mũi khôi ngô, hàm én, mắt phượng, mày ngài, tướng mạo khác thường. Khi bà sinh, mây kéo về phủ kín bầu trời. Nơi bà sinh hàng đàn chim chóc bay về hội tụ. Dân làng Thanh Cương khi đó đang mắc bệnh dịch đều khỏi. Thấy có chuyện lạ, dân làng Thanh Cương lập miếu thờ lộ thiên tại nơi bà sinh và xin với Thái Bà và công tử làm tôi con.

Sau vài tháng, Vũ Công ra Thanh Cương đón Thái Bà và Công tử về Thanh Hoá, đặt tên cho công tử là Vũ Hựu. Năm 7 tuổi, tuy chưa học nhưng Vũ Hựu đã ứng khẩu thông minh lạ lùng, được gọi là thần đồng. Năm 11 tuổi cha mẹ đều mất, Vũ Hựu đến ở với ông ngoại. Năm 12 tuổi ông được ông ngoại cho theo học Lỗ tiên sinh. Được 3 năm thì kinh sử đều thông, văn chương cảm tú, võ nghệ như thần. Năm 16 tuổi, Người theo ông ngoại về quê mẹ. Dân làng Thanh Cương thấy Ông tài giỏi đã mời Ông làm hương sư dạy trẻ trong làng. Từ đó người sớm chiều đọc sách, luyện tập võ nghệ, sức có thể nhấc nổi vạc, thể có thể dời non. Năm 21 tuổi ông lên kinh kỳ dự thi, Tại trường văn, ông đỗ Hoàng giáp, trường Võ ông đỗ Đạo sĩ. Khi vào yết kiến, nhà vua hỏi các việc văn võ, Ông đều ứng đối trôi chảy. Vua rất khen ngợi và cho vinh quy, cấp tiền bạc mở tiệc khao làng, sửa sang nhà cửa, mộ phần gia tiên rồi về Triều đình nhậm chức. Vua phong làm tham ngự triều chính, sau lại phong làm Đô đài ngự sử rồi lại bổ làm đốc trấn, cai quản hai xứ Kinh Bắc và Sơn Nam. Nhờ công đức của ông, nhân dân hai xứ yên vui, làng xóm no đủ. Ông có công lao dẹp người Mán thông đồng với giặc Ai Lao làm loạn ở Hưng Hoá và Tuyên Quang, và dẹp giặc Chiêm Thành sang xâm lược, cướp phá các tỉnh Châu Hoan, Châu Ái (Nghệ An, Thanh Hoá hiện nay).

Ông mất ngày 6 tháng 11 về đến núi Vân Đài, huyện Ngọc Sơn - phủ Tĩnh Gia (Thanh Hoá) khi ông lên núi ngắm cảnh. Vua được tin thương tiếc, cho đình thần đến làm lễ an táng, lệnh cho dân ở hai quê nội, ngoại lập đền thờ phụng và phong cho ông chức Đại vương và phong: Thượng đẳng phúc thần, Minh quốc linh ứng, Hiển Hựu đại vương. Ra sắc chỉ cho dân làng Thanh Cương muôn đời thờ cúng, được miễn các phu phen tạp dịch, xuân, thu nhị kỳ triều đình cử các quan về tế.

Đền Sượt có kiến trúc hình chữ Công (I), gồm 3 toà Tiền bái, Trung từ và Thượng điện. Ngôi đền không chỉ là một di tích lưu niệm danh nhân và còn là một công trình kiến trúc có giá trị nghệ thuật cao, được xếp hạng là di tích lịch sử văn hoá Quốc gia năm 1994.

II. LỄ HỘI

Sau khi ông mất, vào ngày 10 tháng Ba (âm lịch) hàng năm làng Sượt lại mở hội tế lễ kỷ niệm ngày sinh của Đức thánh.

                            

 
                                                             Lễ hội đền Sượt                                                                                                        
 
     1. Công tác chuẩn bị cho lễ hội.

 

Trước cách mạng tháng Tám, vào những năm quốc thái dân an, phong đăng hoà cốc, nhân khang vật thịnh, làng xóm yên bình, lễ hội đền Sượt lại tổ chức lớn. Ngay từ sau Tết Nguyên đán, làng Sượt đã bắt tay vào tu sửa Đình Đền, chuẩn bị vào hội.

Chuẩn bị cho đánh Bệt:

Trai đinh của làng tuổi từ 18 đến 54 đều tham gia đánh Bệt (làng quy định từ 55 tuổi đã vào hàng Lão nên không còn tuổi tham gia). Vũ khí dùng đánh Bệt là Gậy, có 03 loại:

- Gậy cho 5 chú cháu trực tiếp đánh Hùm: Dài 4 thước ta, tương đương với 1,50m, 1,60m;

- Gậy cho 02 nữ đồng trinh múa trước hàng quân: Dài 1,2 thước = 0,5m;

- Gậy cho dân đinh dài 7 thước ta tương đương với 2,7m;

- Các loại gậy làm bằng tre, sơn đỏ các đốt, đầu buộc cù, làm bằng sơ cây dứa dại. Ngay từ tháng Giêng, các nhà có xuất đinh đã đi cắt các tàu cây dứa dại về đập dập, ngâm xuống nước thời gian từ 7 đến 10 ngày (thường là ngâm nước ao), sau đó vớt lên rũ sạch, lấy phần sơ đem nhuộm phẩm các màu (ngũ sắc) buộc lại thành túm tua sau đó buộc vào hai đầu gậy đem ra tập kết tại đình Sượt. Biên chế tổ chức đánh Bệt được phân công theo hàng Giáp. Trước Cách mạng làng Thanh Cương có 4 giáp: Giáp Đông chọn người đóng ông Hùm, Giáp Nam chọn người đóng ông Chú (người hoá thân Đức Thánh); Giáp Bắc và Giáp Trung cử 4 người làm cháu, (4 người giúp việc cho chú), ngoài ra còn ông ký tịch chỉ đạo chung và 02 nữ đồng trinh giúp việc.

Người được đóng vai ông Hùm và ông Chú đều phải 54 tuổi, 4 người cháu và 2 nữ đồng trinh tuổi từ 14 đến 18. Mọi người được lựa chọn phải có đức độ, khoẻ mạnh, gia đình năm đó không có tang, được làng tín nhiệm, phải kiêng kỵ trước 45 ngày không được sát sinh, không ăn thịt chó, không làm điều ác, không tham gia chuyện buồn và giữ chay tịnh.

Tham gia đánh Bệt gồm toàn bộ trai đinh của làng từ 18 tuổi đến 54 tuổi không phân biệt chức sắc, trên dưới.

Vào đầu tháng 2 (âm lịch), việc tập luyện cho việc đánh Bệt đã được triển khai dưới sự truyền dạy của các cụ già cao tuổi. Đến trước ngày hội, các động tác của các thành viên tham gia đánh Bệt đều đạt sự thuần thục.

2. Nấu rượu Hồng tửu.

Rượu Hồng tửu được nấu dâng vào dịp lễ hội Đến Sượt là để ôn lại sự tích sau: Khi sinh thời, Đức thánh đánh giặc ở Châu Hoan, vì không có rượu để tế trời đất, người sai quân lính lấy cơm và lá rừng nấu thành rượu để tế. Rượu nấu ra có màu đỏ (gọi là Hồng tửu) Sau này vào dịp lễ hội, ngay từ 1 tháng Ba (âm lịch), 04 ông giáp trưởng của làng Sượt đều đã có rượu Hồng tử để dâng tiến Đức thánh. Nấu rượu Hồng tửu phải tuân theo quy trình nghiêm ngặt. Trước khi nấu, các ông giáp trưởng làm lễ trình thánh, xin âm dương, xin được (một đồng xấp, một đồng ngửa) thì mới được làm.

Nguyên liệu nấu rượu là gạo nếp. Mỗi giáp làm khoảng 10 đấu tương (15kg). Từ tháng 10 năm trước gặt mùa xong các gia đình chọn loại nếp cái hoa vàng ngon nhất để làm rượu và làm các loại bánh dâng lễ.

Thông thường từ 14 tháng 2 (âm lịch) xay thóc, giã trắng, loại bỏ hết các hạt vỡ, đớn, rồi vo, đãi kỹ và cho vào ngâm thời gian ngâm khoảng 15 giờ thì vớt ra, đãi lại để ráo nước rồi cho vào chõ sành đồ xôi. Nước đồ xôi là nước mưa. Khi xôi gần chín thì vảy lên mặt xôi 2 lần nước mưa để hạt gạo mọng. Khi xôi chín xới ra rá và đãi bằng nước mưa trong, tản ra nia để nguội, chuẩn bị chiếc rá tre lót lá chuối tươi, rửa sạch, rồi vật xôi vào rá để theo từng lớp. Mỗi lớp xôi lại được rắc một lượt men rượu (men được làm bằng gạo nếp và thuốc Bắc, có nơi làm riêng). Sau khi cho hết xôi đã đồ vào giá và rắc men rượu thì phủ lên một lớp lá chuối khô, dưới rá đặt chiếc chậu, nồi sành gốm cho nước chảy xuống. Ủ từ 3- 4 ngày thì rượu dậy mùi, xuống nước. Bình thường 10 đấu gạo sẽ cho 19-20 lít rượu hồ. Sau khi rượu xuống hết nước cho cái gạo vào choé đậy kín, quệt vôi xung quanh choé để chống kiến, gián. Phần nước hồ để trong sau đó lọc 3 lần bằng vải thô (cách 2 ngày lọc một lần). Đến ngày 9 tháng 3 lọc bằng giấy bản rồi đem trưng cô. Thời gian trưng khoảng 7 tiếng, rượu từ 20 lít khi còn 7 lít đặc sánh và sẫm như mật ong là được. Rượu nguội, đem ra múc vào choé để tiến dâng đức thánh vào tối mồng 9 tháng Ba.

3. Nuôi ông lợn để làm lễ tế Thánh.

Một trong những lễ vật tế thánh vào ngày trọng hội 10 tháng Ba là mỗi giáp phải có một ông lợn thịt (lợn đực để sống). Làng Thanh Cương có 4 giáp mỗi giáp nuôi một ông lợn. Người nuôi lợn gọi là ông Đám. Ông lợn phải được nuôi từ tháng 4 năm trước. Trước khi đem lợn về nuôi, gia chủ phải làm chuồng mới hoàn toàn (kể cả địa điểm và vật liệu). Thức ăn cho ông lợn từ ngày 1 tháng Tư năm trước đến 30 tháng Giêng năm sau bằng bèo cám bình thường. Từ ngày mồng 1 tháng 2 cho lợn ăn bằng cháo cám gạo nếp, mía được dóc vỏ cho đến 9 tháng 3 lợn phải đạt được 60 kg trở lên.

4. Lễ hội diện ngày 01 tháng Ba (âm lịch):

Sáng ngày 01 tháng Ba, cả làng họp mặt tại Đền Sượt để bàn việc tổ chức lễ hội gọi là Lễ hội diện. Dân làng dâng lễ có xôi gà, rượu, trầu cau vàng hương. Dâng lễ xong dân làng rước Sắc từ Đền về nhà ông Lý trưởng. Cùng ngày 1 tháng Ba, ban khánh tiết ở Đền chuẩn bị nước để làm lễ mộc dục. Nước mưa lọc trong cho quế, gừng tán nhỏ, đậy kín quét vôi xung quanh để kiến, gián không vào được, đợi đến ngày 10 tháng Ba sẽ tiến hành, tắm mộc dục (tắm tượng đức thánh).

Ngày 8 tháng Ba (âm lịch): tại nhà ông hành văn phải lập ban thờ để rước bài chúc văn từ Đền về nhà ông hành văn. Cỗ rước văn gồm các thứ bánh như su sê, bánh cốm, xôi vò, chè đường... do nhà ông hành văn đảm nhiệm.

Ngày 9 tháng Ba (âm lịch), các xuất đinh từ 18 đến 54 tuổi của cả làng tập trung ở nhà ông lý trưởng ra Đền làm lễ cáo yết (lễ mở cửa đền). Lễ do nhà ông lý trưởng sắm gồm xôi gà, chè đường, rượu, trầu cau, vàng, hương...

Nghi lễ tế: Tế tại tiền đường, thành phần tế gồm 20 người, có chủ tế, tế một tuần rượu, chủ tế đọc toàn bộ 4 sắc phong:

- Sắc phong thời Lê Chiêu Tôn;

- Sắc phong thời Lê Trang Tôn;

- Sắc phong thời Lê Uy Tôn;

- Sắc phong thời Gia Long.

Sau đó các xuất đinh trai tráng rước long đình bát biểu đồ tế khí về nhà ông Lý trưởng (ngày xưa nhất thiết các nhà lý trưởng phải có tường hoa để dựng các đồ tế khí trên).

5. Làm cỗ thượng tiến và dâng thánh:

Cũng từ ngày 9 tháng ba (âm lịch) các giáp làm bánh dầy, cỗ chay, cỗ mặn, mổ lợn để ngày 10 tháng Ba dâng Thánh.

- Làm bánh dày: Tục giã bánh dày ở Đền Sượt là một mỹ tục được cả làng tham gia gọi là Hội giã bánh dày. Con cháu làng Sượt dù làm ăn ở đâu, đến dịp Hội làng đều trở về họp mặt ở đình, tham dự hội giã bánh.

Quy trình giã bánh: gạo nếp ngon, đãi sạch, ngâm nước thời gian từ 6-8 tiếng, đem nấu xôi. Công việc nấu xôi thường giao cho các bà cao tuổi, sau đó xôi được xới ra và cho vào cối giã bằng chày tay. Công việc giã bánh được giao cho các thanh niên nam nữ trẻ khỏe. Đến ngày 10 tháng Ba, những chiếc bánh dày được dâng lên đức thánh là sự kết tinh tình cảm, tinh thần đoàn kết của cả cộng đồng làng xóm

- Làm lợn tế thánh:

Đêm ngày 9, rạng ngày 10 tháng 3 âm lịch, các giáp tiến hành mổ lợn, lợn được để sống, phần phủ tạng được làm sạch, bày lên mâm. Thân lợn được bọc bằng mỡ chài tạo độ bóng, trang trí đẹp. Tất cả lễ vật dâng Thánh ngày 10 tháng 3 là do 4 ông Đám ở 4 giáp đến luân thứ theo độ tuổi phải làm. Việc mổ lợn, giã bánh giày, làm cỗ đều được tiến hành ở nhà ông đám.

Ngoài cỗ chung của hàng giáp, các gia đình tuỳ theo điều kiện cũng làm lễ dâng Thánh, thường là bánh dày, xôi gà... sáng ngày 10 tháng 3 rước ra Đền.

Buổi tối 9 tháng 3: Các giáp mời các gánh hát từ các nơi về (chủ yếu là hát chèo ở nhà ông giáp trưởng. Xưa có các gánh hát hay về đây là gánh hát chèo Xuân Nẻo - Tứ Kỳ, làng Hóp - Gia Lộc).

Đêm ngày 9 tháng 3 việc nấu rượu Hồng Tửu của các giáp hoàn thành, họ đem rượu vừa làm xong cùng với các lễ vật dâng Thánh.

Ngày lễ trọng 10 tháng 3 (âl):

Từ sáng sớm, toàn bộ cỗ lợn, cỗ chay, cỗ mặn từ nhà ông đám của 4 giáp rước ra Đền. Đoàn rước gồm nhiều lớp, đi đầu là đoàn múa lân, biểu trưng quyền uy của nhà Thánh, tiếp theo sau là cờ thần, đoàn bát âm, đoàn bát biểu tháp tùng 2 bên, rồi đến kiệu long đình, trong kiệu là bài vị của bản thần. Kiệu bát cống rước thành hoàng được sơn son thiếp vàng. Bài vị của Đức thánh được phủ vải nhiễu thêu hoàng long lộng lẫy. Khênh kiệu là 16 thanh niên trai tráng, được chọn lựa kỹ càng, trong đó có 8 người phù giá, lần lượt thay nhau khiêng kiệu.

Tổ chức rước là sự tôn vinh Đức thánh, biểu dương lực lượng và khối đoàn kết xóm làng. Đám rước xuất hành trong tiếng trống, tiếng chiêng, tiếng nhạc vang lừng, đầy khí thế hào hùng như khúc khải hoàn của nhà Thánh.

Ra đến Đền các lễ vật, các đồ tế khí của các giáp được đặt lên giá ở sân Đền, cùng lúc rước văn. Đúng giờ Thìn (từ 7 giờ) ngày 10 tháng 3 bắt đầu lễ Mộc dục (tắm bài vị Đức Thánh). Nước tắm được chuẩn bị từ ngày 1 tháng 3 (đã nói ở phần trên). Bài vị Đức Thánh được rước ra Tiền đường phía Bắc (Tương truyền địa điểm này là nơi Đức Thánh sinh ra). Bài vị được quây bằng gỗ màn đỏ. Thực hiện lễ mộc dục là 4 cụ mạnh khoẻ, uy tín với dân làng. Khi tắm Bài vị, các cụ trang phục quần trắng, áo lương, đầu đội khăn xếp nhiễu, thắt lưng búi hậu đỏ. Trong khi 4 cụ tắm bài vị thì các cụ cao tuổi khác và dân làng đứng bái yết.

Sau lễ Mộc dục các chức dịch trong làng tổ chức tế Ngoại tán (ngoài sân). Nội dung tế Ngoại tán như sau:

- Tuần rượu đầu (sơ hiến lễ): Ông hành văn dọc 4 sắc phong như ngày 9 tháng 3.

- Chủ tế đọc văn tế cơ bản giống văn tế ngày 9 tháng 3, thêm: Cung duy Đại Vương - Hoàng Long ứng thuỷ giáng thế cứu dân... (Các văn tế bằng chữ Hán tại đền Sượt đã được dịch).

Sau đọc văn tế: Dẫn 2 tuần rượu, mỗi tuần rượu từ 15 đến 20 phút.

- Tuần thứ 2: Á hiến lễ.

- Tuần thứ 3: Trung hiến lễ.

Sau 3 tuần rượu là lễ ẩm phước. Lễ gồm 1 quả cau, 1 lá trầu, lưng chén rượu do ông thủ từ bưng từ trong Đền ra giao cho ông Mạnh bái (chủ tế). Ông chủ tế vái 1 vái, uống 1 hớp rượu vái tiếp và được mang lễ về.

Sau lễ ẩm phước là lễ bái tạ, ông hành văn hoá văn.

Sau lễ ngoại tán là việc xin âm dương. Lễ xin âm dương tại lễ hội Đền Sượt xuất phát từ sự tích: Tương truyền sinh thời Đức Thánh khi đi đánh giặc Ai Lao, giữa rừng núi Châu Hoan, Đức Thánh đã kêu trời đất và bách thần cầu xin âm phù đánh tan quân giặc. Ngài đã sai quân lính bổ đôi gốc tre thay đồng tiền dài để xin âm dương. Với 1 lần xin đã được tạo ra khí thế chiến thắng giặc trong tướng sĩ. Từ sự tích trên, tại lễ hội đền, làng Thanh Cương có tục xin âm dương để tái hiện lại việc làm của Đức Thánh. Từ đó ở Đền Sượt có thờ đôi gióng tre thiêng dài 1,2m sơn son thiếp vàng. Mỗi dịp hội làng và khi tổ chức việc đuổi bệt, ông mạnh tế lại rước vật thiêng này ra làm lễ xin dương để ôn lại việc làm của Đức Thánh và xin cho mưa thuận gió hoà, mùa màng tươi tốt, đời sống của dân làng được tốt đẹp. Hiện nay 2 gióng tre này được thờ tại Hậu cung của Đền.

Nghi lễ như sau: Người đứng ra xin âm dương là 3 ông đám Mạnh tế, đứng thẳng hàng theo thứ tự: Giáp đông, giáp Nam, giáp Bắc. Ông Mạnh tế bước lên cầm 2 đòn tre do ông thủ từ đưa và quỳ xuống khấn. Khấn xong đứng dậy thả 2 đòn tre xuống. Nếu giáp đầu xin được ngay thì 2 giáp sau thôi không xin nữa. Nếu giáp đầu không xin được thì giáp thứ 2, giáp thứ 2 không xin được thì giáp thứ 3. Kết quả xin âm dương nếu được thì thể hiện ở 2 gióng tre 1 sấp, 1 ngửa. Dân làng cho rằng năm đó sẽ gặp may mắn nhiều. Nếu cả 3 ông xin không được thì lại xin lại từ đầu. Sau phần xin âm dương là phần chia cỗ.

Các loại cỗ cúng tế tại Đền được chia như sau:

- Cỗ chay: Chia cho các xuất đinh cả giáp.

- Cỗ mặn: Biếu các cụ từ 55 tuổi trở lên.

- Thịt "ông lợn" chia đều cho các xuất đinh trong giáp. Riêng phần thủ thì biếu các cụ từ 55 tuổi trở lên. Còn cái lầm lợn thì biếu các chức dịch, giai tế.

- Rượu tế "Hồng tửu" giáp nào chia cho các xuất đinh của giáp đó.

- Vào những năm làng được mùa to thì lễ hội Đền Sượt được tổ chức trước từ Đền qua khu lăng mộ về đình, sau đó đóng đám tại Đình. Theo các cụ cao tuổi của làng kể lại, việc rước này rất ít được tổ chức.

- Ngày 11 tháng 3: 4 giáp làm tế yết tại đền, tiến lễ mỗi giáp gồm: 1 mâm xôi, 1 con gà, rượu, trầu cau, vàng hương (nghi thức tế: giống lễ cáo yết ngày 9 tháng 3).

Buổi tối: Tổ chức hát chèo tại Đền đến trưa 12 tháng 3 (tiền của làng).

Ngày 12 tháng 3: Tế xuân (tế Quốc tế ân ban, theo Nghi thức quốc tế). Lễ vật: là 1 con trâu đực, được thịt để cả con đặt trên giá đóng bằng gỗ lim (trâu đực phải do đích thân Lý trưởng hoặc phó lý đi tậu về). Trước đây làng thường đi mua trâu ở Huyện (Nam Sách), xôi, rượu trắng, trầu cau, vàng hương.

Chủ tế: Phải là người có phẩm hàm, chức sắc của làng.

Sau lễ tế, thịt trâu được chia cho toàn bộ xuất đinh của làng. Người chia thịt trâu là mõ làng và được hưởng như một xuất đinh. Riêng Hội đồng dân biểu được biếu một đùi trâu.

Ngoài việc mổ trâu của làng, mỗi giáp có 1 mâm xôi cúng tại đền. Xôi cúng tại đền hàng năm của các giáp là do các xuất đinh đóng góp, mỗi người đóng 1 cân xôi, tương đương với 7 đến 8kg gạo nếp. Trước làng có 1 chiếc cân dọc gỗ lim, quả bằng đá, dùng để cân xôi (nay không còn).

Buổi tối 12 tháng 3: Hát chèo tại sân đình do các lý lịch trong làng bỏ tiền ra cúng tiến.

Ngày 13 tháng 3 âm lịch: Buổi sáng Các ông đám và các ông hoá làm lễ tại đền (Các ông đám: là các ông đến phiên do giáp cũ ra làm cỗ. Các ông hoá: là các ông do các giáp cử ra đi thu lễ gà xôi ở đền từ ngày 10 tháng 3 đến ngày 17 tháng 3).

Lễ gồm có: Lễ gỏi (cá chép, rượu, xôi). Tất cả những chức sắc tham dự tế đều được mời (khoảng 20 người là các chức dịch của làng).

Nghi thức: chỉ khấn, không đọc văn tế

Buổi chiều: tổ chức rước văn về nhà ông hành văn.

Buổi tối: Các ông hoá và ông đám bỏ tiền ra cung tiến hát chèo tại sân đền.

- Ngày 14 tháng 3 âm lịch làng chuẩn bị ra tạ rằm.

Buổi sáng 4 giáp thịt 4 con lợn đực. Mỗi con nặng khoảng 45 đến 50kg luộc chín, 1 mâm xôi và 1 lít rượu trắng để ngày 15 đưa ra đền lễ tạ rằm. Xôi do dân đóng góp.

Buổi tối: Hát chèo tại sân Đền bằng tiền của làng. Đặc biệt có tục thả trứng cùng được tổ chức vào đêm ngày 14 tháng 3 âm lịch. Tục thả trứng được tổ chức xuất phát từ tích tương truyền: Khi Đức thánh làm quan ở Kinh Bắc và Sơn Nam, Đức Thánh bà ở nhà khi ngủ chiêm bao thấy Rồng và có thai. Khi Đức thánh về, Đức bà trình bày nhưng Đức Thánh không tin và đưa bà ra khu đồng Đồng Thần (phía Nam làng hiện nay vẫn còn) dựng cho bà một ngôi nhà tranh ở đó. Đến đêm 14 tháng 3, bà đã đẻ ra hai bọc - mỗi bọc 5 trứng. Ngay sau đó và đã mất. Từ đó dân làng có tục vào ngày bà mất, tổ chức thả trứng ở ngòi Đống Dương.

Tục thả trứng được tiến hành như sau: Vào lúc 12h đêm, các cụ cao tuổi của làng làm lễ dâng tại Đền xin phép đi thả trứng. Lễ gồm xôi, gà, rượu trắng, trầu cau, vàng hương... Những người đi thả trứng tuyệt đối không được gây tiếng động, không được nói, cười, không mang theo đèn đuốc mà chỉ đem theo một nắm hương đang cháy, làm theo nghi thức: Mật Lễ. Những người dân nhìn thấy đoàn người đi thả trứng đều tránh. Đến ngòi Đống Dương, trứng được để vào 2 chiếc bát: mỗi bát 5 quả rồi đặt vào khay vải đỏ, chờ khi nghe tiếng 3 hồi trống ở Đền thì thả khay trứng xuống giữa dòng nước. Xong việc, họ ra về cũng im lặng như lúc đi.

- Ngày 15 tháng 3: Tổ chức rước văn từ nhà ông hành văn ra Đền.

- Lễ vật: Lợn, xôi, rượu trắng được chuẩn bị từ ngày 14 tháng 3 (trên).

- Nghi thức tế: Đọc 4 sắc phong theo tục tế tạ. Tối nghỉ

Các ngày 16, 17, 18 tháng 3 có cỗ hát tại đình. Cứ 6 xuất đinh 1 mâm, mỗi mâm cỗ có: Chim tần, cá hấp, gà quay, lợn quay, 6 miếng giò, xôi vò, chè đường vừa ăn vừa nghe hát. Những người hát là các cô đầu (ca trù) ở các nơi về. Ngoài hát chèo vào buổi tối, Hội đền Sượt có các trò: đấu vật, đua thuyền, chọi gà, cờ người, múa rối nước.

- Ngày 19 tháng 3: Làng chuẩn bị tế tạ.

- Ngày 20 tháng 3: Lễ tế tạ - tổ chức rước Thánh từ đình qua lăng mộ (thuộc cánh đồng thuộc Bệnh viện tỉnh ngày nay) sau đó về Đền.

- Thả cây đám: Đến ngày 20 tháng 3 cây Đám được đem thả tại ao đình. Trong ý thức của nhân dân thì cây Đám nổi là điềm tốt, cây Đám chìm hoặc cắm xuống là điềm xấu. Nếu cây đám nổi mà trôi về phía xóm nào thì xóm đó gặp nhiều điều may mắn.

Tổ chức đánh Bệt (đuổi Hùm):

Sự tích trò đánh bệt: Tương truyền vào hồi vua Lê Chiêu Tôn, giặc Chiêm Thành vào xâm lược bờ cõi phía Nam nước ta. Lúc này Vũ Hữu đã về trí sĩ nhưng vẫn được Vua mời về Triều cầm quân đi đánh giặc. Ông vâng lệnh Vua, chiêu tập binh sĩ trong vùng, biên chế thành đội ngũ, chuẩn bị lên đường thì có con hùm lớn về quấy phá làng Thanh Cương. Ông tổ chức cho quân sĩ đánh hùm để cứu dân làng. Ông chọn 5 người tâm phúc, tin cậy, có tinh thần dũng cảm nhất, biên chế thành đội tiền quân. Mỗi quân lính sắm 1 gậy tre dài từ 2m trở lên. Sau đó ông bày trận và giết chết được Hùm. Con hùm đã được tướng sĩ thịt làm lễ tế trời đất. Diệt hùm xong, ông lại cùng quân sĩ về triều yết kiến Vua nhận chỉ dụ đi đánh giặc.

Từ sự tích trên, tại lễ hội đền Sượt có tục đuổi Bệt vào ngày 20 tháng Ba, tái hiện việc đánh hùm của Đức Thánh Vũ Hữu và quân sĩ. Trò đánh Bệt được diễn ra như sau:

- Phần chuẩn bị gậy (đã nói ở phần trên).

- Lực lượng đánh Bệt: Các xuất đinh ở trong làng tuổi từ 18 đến 54, có sức khoẻ.

Từ ngày 19 tháng 3, làng làm nhà mai cua, nguyên liệu bằng cây lá. Đây là sự tái hiện lại lán trại của Đức Thánh khi ngài cầm quân đi đánh giặc. Trong tục đánh bệt, nhà mai cua là nơi ở của 6 chú cháu trước khi đi đánh Bệt. Gậy đuổi Bệt đã được tập trung sẵn tại sân đình. Sáng ngày 20 tháng Ba, những người trong đoàn quân đuổi Bệt đầu chít khăn đỏ, thắt lưng đỏ, tập trung ở đống Mả Thế, ở phía Nam làng (còn gọi là đống Đồng Đầng). Trước khi đuổi Bệt là lễ xin âm dương, do ông Mạnh Tế thực hiện (nghi lễ xin âm dương giống như ngày lễ trọng 10 tháng 3). Lễ xin âm dương xong, ông Ký tịch nổi 3 hồi chiêng trống. Quân từ Đống Mả Thế chạy về đình, sau đó chạy tiếp 2 vòng quanh đình rồi vào sân đình. Tất cả đều lễ 2 lễ rồi cướp gậy. Cướp gậy xong dàn thành 2 hàng và hành quân ra đến nhà mai cua nơi có các chú cháu đang trú, tất cả đều dàn hàng chạy ra sân Đền. Lúc này người đóng hùm mặc áo da hùm trú tại Hậu cung Đền. Ba hồi chiêng trống nổi lên, ông Ký tịch từ trong đền bước ra đi trong hàng quân đọc tiểu sử sự nghiệp Đức Thánh (không đọc thành lời mà đọc trong tâm), đi sau có 2 nữ đồng trinh múa gậy bông. Đây là giờ phút linh thiêng nhất của ngày hội để nhớ lại công lao của Đức Thánh khi xưa đã cống hiến cho dân, cho nước. Ông ký tịch đọc Thánh tích xong, 6 chú cháu ra múa gậy rồi vào hậu cung lừa Hùm ra sân Đền. Trò được thể hiện sau 3 hồi vờn Hùm rồi hùm lao ra, các xuất đinh cầm gậy chạy theo đến đống Mả Thế thì bắt được Hùm, người ta lấy lốt hùm và tranh nhau xé lấy về làm khước.

LỄ HỘI ĐỀN SƯỢT NGÀY NAY

Theo cụ Hoàng Văn Đát 82 tuổi, người làng Thanh Cương kể lại: Lễ hội đền Sượt trước Cách mạng tháng Tám có được tổ chức nhưng không phải năm nào cũng tổ chức rước, biểu diễn văn nghệ hay tổ chức trò đánh Bệt. Việc tổ chức rước và trò đánh Bệt từ năm 1937. Sau đó đã không có điều kiện tổ chức hàng năm, phải tới năm 1919 do sự chỉ đạo của Sở Văn hoá Thông tin, việc rước và trò đánh Bệt mới được phục hồi, nhưng nghi thức diễn ra chưa được đầy đủ như ngày xưa. Lễ hội đền Sượt được duy trì đều từ năm 1990 trở lại đây. Theo Quy chế tổ chức lễ hội của Bộ Văn hoá - Thông tin (nay là Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch) lễ hội Đền Sượt tổ chức vào 2 ngày 9 và 10 tháng 3 âm lịch hàng năm. Các hoạt động lễ hội ngày nay diễn ra một số việc như sau:

Từ ngày 1 tháng 7 đến 7 tháng 3: Ban khánh tiết đền tổ chức lau rửa đồ thờ tự, họp bàn tổ chức lễ hội.

Ngày 9 tháng 3: Tổ chức lễ Mộc dục, đón khách thập phương về dâng hương.

Tối 9 tháng 3: Ban khánh tiết sửa lễ gồm xôi, gà, rượu trắng, trầu cau, vàng hương làm lễ cáo yết tại đền.

Ngày 10 tháng 3: Buổi sáng ban khánh tiết sắm lễ xôi gà, rượu trắng, trầu cau, hương hoa dâng Đức Thánh tại đền. Từ năm 1999 đến nay, dân làng tổ chức rước kiệu từ đền, qua khu lăng mộ Đức Thánh - đến đình - về đền.

Thứ tự đoàn rước ngày nay: Đi đầu là múa lân - cờ hội - bát biểu - kiệu long đình (8 ngươi khênh kiệu là thanh niên chưa vợ). Nhạc rước có tù và, bát âm và chiêng. Sau kiệu là những mâm lễ vật của dân làng.

Sau khi đoàn rước về ổn định tại sân đền, kiệu được đưa vào hậu cung, trưởng ban khánh tiết thắp hương.

Nội dung lễ dâng hương: Ông trưởng ban di tích đọc diễn văn ca ngợi công đức của Đức Thánh và nêu trách nhiệm của Ban quản lý di tích, mọi công dân đều có nghĩa vụ bảo vệ di tích. Sau khi đọc xong diễn văn, các gia đình ở thôn Thanh Cương và khách thập phương vào dâng lễ.

Hiện tại thôn Thanh Cương vẫn tổ chức hội, tuần gồm 24 cụ. Cụ có tuổi cao nhất là 80, người ít tuổi nhất là 50. Hội tuần có nhiệm vụ lo việc tuần tiết tại đền: Ngày sóc, ngày vọng (ngày mùng 1 và ngày rằm) cùng các ngày tế lễ theo tục cũ đến nay thôn vẫn còn giữ được.

Phần hội: Hội đền Sượt ngày nay tuy không được tổ chức các trò diễn như ngày xưa, xong vẫn còn giữ được một số trò vui như: Chọi gà, cờ tướng, biểu diễn chèo... Năm 1999 trò đánh Bệt được tổ chức lại, đã được dân làng nhiệt tình tham gia.

Lễ hội đền Sượt từ xưa đã được coi như là một lễ hội vùng có quy mô lớn, thu hút nhân dân từ các tỉnh như: Hà Nội, Bắc Ninh, Hải Phòng về dự. Ngày nay, đền Sượt vẫn còn là một trung tâm tín ngưỡng hưng thịnh. Đặc biệt là những ngày đầu xuân, ngày lễ hội, ngày rằm mùng 1 đã thu hút đông đảo nhân dân đến sinh hoạt tín ngưỡng. Ở đây sở dĩ thu hút đông đảo du khách ngoài cảnh đẹp của đền và truyền thống uống nước nhớ nguồn còn có nguyên nhân cho rằng: Thẻ của đền Sượt khá ứng nghiệm. Hộp thẻ có 100 quẻ tiêm được ghi thứ tự trên các thanh tre dài khoảng 20cm, vót mỏng bản có chiều rộng khoảng 1cm. Trên đầu mỗi quẻ tiêm được đề bằng chữ Hán và số tự nhiên từ số 1 đến 100, mỗi thử được ứng với cuộc đời số phận của một đức thánh hiền hoặc một quan chức trong lịch sử Trung Quốc. Trong tâm linh của nhiều người cho rằng Đức Thánh đền Sượt rất thiêng, những người đến cầu phúc, những điều tâm đức thường được phù hộ.

MỘT VÀI KIẾN NGHỊ:

Lễ hội đền Sượt cùng với các lễ hội đình Đinh Văn Tả (phường Quang Trung - 8 tháng 3), Đình - chùa Bảo Sài (phường Phạm Ngũ Lão), Đình chùa Cô Đoài (phường Bình Hàn), đình Đồng Niên (xã Việt Hoà) trên địa bàn thành phố Hải Dương là những nét văn hoá truyền thống được duy trì, khôi phục giữa đời sống đô thị, cơ chế thị trường thực sự đáng quí và cần được giữ gìn, phát huy. Song nhìn chung hiện nay lễ hội Đền Sượt còn nặng về phần lễ, phần hội còn nghèo nàn. Trò đánh Bệt là một trò vui dân gian đặc sắc đậm tinh thần thượng võ đã không được duy trì. Lượng khách tới đền Sượt khá đông, công đức nhiều, xong việc hạch toán thu chi của di tích chưa được chặt chẽ, sử dụng chưa đúng mục đích theo quy định của nhà nước. Với thực trạng như vậy, xin có một vài kiến nghị:

1. Xây dựng đề án khôi phục công nghệ nấu rượu của đền Sượt làm sản phẩm để giới thiệu rộng rãi và đối ngoại, là một đặc sản của địa phương.

2. Lễ dâng hương Đức Thánh Vũ Hữu vào ngày lễ hội truyền thống 10 tháng 3 cần được tổ chức trọng thể. Lãnh đạo thành phố Hải Dương nên về dự lễ.

3. Phần hội cần được tổ chức các hoạt động phong phú hơn. Trò đánh Bệt cần được tổ chức hàng năm nhằm nêu cao tinh thần đoàn kết và thượng võ của dân tộc.

4. Không gian khu di tích cần được mở rộng về khu vực trước cửa đền để có điều kiện tổ chức nhiều trò vui và các hoạt động văn hoá trong dịp lễ hội.

5. Tận dụng nguồn công đức của nhân dân xây dựng khu nhà Tảo soạn và khu dịch vụ để tạo điều kiện cho nhân dân về dự lễ hội được thuận tiện.

Nguyễn Thị Cuối

Thư viện ảnh

Thăm dò ý kiến

Thống kê truy cập

Số lượt truy cập:
0
Số người đang online:
1034

View Larger Map