Xin ý kiến góp ý nội dung văn bia Tiến sỹ nho học trấn Hải Dương
(18/07/2012 9:47:00 CH)

TIẾN SĨ NHO HỌC HẢI DƯƠNG ĐỀ DANH KÝ- BIA THỨ NHẤT

Lời Ban biên tập: Hải Dương là tỉnh có truyền thống hiếu học, thời phong kiến có số tiến sĩ Nho học đứng đầu cả nước theo đơn vị tỉnh, huyện và xã. Để phát huy truyền thống tốt đẹp đó, Văn miếu Trấn Hải Dương tại Mao Điền (Cẩm Giàng) đã được nhà nước cho trùng tu tôn tạo, nhà bia cũng đã được xây dựng. UBND tỉnh đã có quyết định cho dựng Bia bia Tiến sĩ Nho học đề danh ký nhằm tôn vinh trí thức và khuyến học. Văn bia nay đã soạn xong và dịch sang Hán văn, khoảng 43.000 chữ, khắc trên 14 bia lớn, Viện Hán Nôm cũng đã nhuận sắc. Danh sách Tiến sĩ Nho học thời phong kiến cùng quê quán cũng đã niêm yết tại Văn Miếu nhiều năm để nhân dân góp ý. Để đảm bảo sự chính xác cao về tiểu sử và danh tính các Tiến sĩ, Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịchHải Dương xiný kiến bổ sung rộng rãi của độc giả từ các cơ quan đến các làng xã. Thư từ tham gia xin gửi về Ban biên tập, Tạp chí Văn hoá, Thể thao và Du lịch Hải Dương, số 75 Bạch Đằng, TP Hải Dương hoặc theo địa chỉ emai:tapchivhttdlhd@yahoo.com.vn.
Lãnh đạo Sở và Ban biên tập xin trân trọng cám ơn !

TRUYỀN THỐNG HIẾU HỌC CỦA SĨ TỬ XỨ ĐÔNG

Từ đầu thế kỷ XV, Nguyễn Trãi đã viết:
Nên thợ nên thầy vì có học,
No ăn no mặc bởi hay làm.
Đó là chân lý của muôn đời. Trên phương diện cá nhân, dù làm thợ, làm thầy hay làm bất cứ một nghề gì cũng cần phải học. Có những người học cốt để lấy trí thức hành nghề, phục vụ cuộc sống gia đình và xã hội, việc học ở trường lớp chỉ là kiến thức cơ bản ban đầu, sau đó lấy tự học là chính và coi nghiệp học là sự nghiệp của cả đời. Cái họ cần là thực tài và những điều thiết thực cho cuộc sống. Nhưng học mà không được kiểm tra, nghĩa là không qua một cuộc sát hạch toàn diện thật khó xác định được kết quả học tập, xã hội cũng không có cơ sở để xác định tài năng để sử dụng một cách thích hợp. Bởi thế, xưa nay, học và thi để đạt được học vị cao là lý tưởng của hầu hết thanh thiếu niên và cũng là niềm hy vọng của phụ huynh. Đó cũng là điều kiện cần để lập nghiệp và tham gia xây dựng đất nước ở những vị trí quan trọng. Song cũng không ít trường hợp học và thi như một thứ danh dự, hơn thế, còn để làm gương cho con cháu.
Trên phương diện quốc gia, việc nâng cao dân trí, đào tạo nhân tài là quốc sách hàng đầu của nhà nước ta xưa cũng như nay. Trong bài tựa của bia Tiến sĩ Khoa Nhâm Tuất, năm Đại Bảo thứ 3(1442), khắc dựng năm Hồng Đức 15(1484), tại Văn miếu Thăng Long, Tiến sĩ Thân Nhân Trung, theo lệnh của vua Lê Thánh Tông đã viết: “ Mở khoa thi, chọn kẻ sĩ là việc đầu tiên của phép trị nước. Tô điểm cơ đồ, mở mang giáo hoá cho đời thịnh trị là nhờ ở đó. Sửa sang chính sự, sắp đặt mọi việc giáo hoá cho nhân dân, gây dựng phong tục tốt đẹp là nhờ ở đó. Các bậc đế vương xưa làm nên sự nghiệp trị bình không ai không theo con đường ấy... Bởi vì: “ Hiền tài là nguyên khí của quốc gia. Nguyên khí thịnh thì thế nước mạnh rồi lên cao. Nguyên khi suy thì thế nước yếu rồi xuống thấp. Vì vậy các bậc thánh đế, minh vương chẳng ai không lấy việc bồi dưỡng nhân tài, kén chọn kẻ sĩ, vun trồng nguyên khi làm việc đầu tiên”.
Sự nghiệp giáo dục hiện đại được nhà nước ta quan tâm ngay từ khi giành chính quyền. Thư của Hồ Chủ tịch gửi học sinh nhân ngày khai trường, sau Cách mạng tháng Tám, khẳng định:" Non sông Việt Nam có trở nên tươi đẹp hay không, dân tộc Việt Nam có bước lên đài vinh quang để sánh vai với các cường quốc năm châu đựơc hay không, chính là nhờ một phần lớn ở công học tập của các em". Đảng ta cũng đã xác định:" Sự nghiệp giáo dục, nâng cao dân trí, đào tạo nhân tài là quốc sách hàng đầu của đất nước".
Việc giáo dục trong đời sống xã hội được thực hiện bằng nhiều biện pháp, song từ khi có văn tự thì việc dạy và học của mỗi quốc gia, mỗi dân tộc đều phải dựa vào một loại ngôn ngữ và văn tự nhất định. Kể từ đầu Công nguyên đến đầu thế kỷ XX, nghĩa là ngót 2000 năm, văn tự chính thống dùng trong nhà trường và văn bản nhà nước là chữ Hán, thứ chữ từ Trung Quốc du nhập vào Việt Nam. Tư tưởng giáo dục chủ đạo là Nho giáo- học thuyết do Khổng Tử khởi xướng từ TK V trước công nguyên. Thời Lý và đầu thời Trần, Nho giáo chưa chiếm được vị trí độc tôn, nhiều kỳ thi đại khoa tuyển chọn nhân tài có nội dung Tam giáo( Nho, Phật, Lão). Từ cuối thời Trần về sau, Nho giáo chiếm địa vị chủ đạo về chính trị và giáo dục, nên thi cử trong thời kỳ này căn bản là Nho học. Học sinh các trường gọi là Nho sinh. Chữ dùng trong nhà trường dân gian quen gọi là chữ Nho, thực chất là chữ Hán và một phần chữ Nôm. Tư tưởng chủ đạo của Nho học là Tam cương, Ngũ thường. Phương pháp giảng dạy là Tiên học lễ, Hậu học văn. Việt Nam tiếp thu Nho giáo một cách sáng tạo, không lệ thuộc và giáo điều. Lễ ở đây phải hiểu là đạo đức, là các mối quan hệ xã hội; Văn không thuần tuý là văn chương mà là tri thức khoa học nói chung. Nội dung giảng dạy và thi cử mỗi triều đại một khác, nhưng để trở thành Tiến sĩ đều phải qua 3 kỳ thi cơ bản: thi Hương, thi Hội và thi Đình.
Chữ Hán vào Việt Nam được ông cha ta đọc theo âm Hán-Việt, đây là một thành công cực kỳ to lớn về văn hoá và giáo dục trong ngót một nghìn năm Bắc thuộc, nhằm bảo vệ tiếng nói và bản sắc văn hoá dân tộc. Tiến thêm một bước, từ ký tự chữ Hán, các học giả Việt nam sáng tạo ra chữ Nôm, đây là Quốc ngữ bằng ký tự Hán văn.
Giữa TK XVII, một số giáo sĩ phương Tây, lấy ký tự La-tinh để phiên âm tiếng Việt, phục vụ cho việc truyền đạo, nhưng phải gần 300 năm sau, nó mới được trọng dụng và đi vào cuộc sống. Đây là thứ Quốc ngữ hiện đại mà nước ta đang dùng. Khoa thi Tiến sĩ năm Duy Tân thứ 4(1910), kỳ thi Đệ tam, đã có 2 bài luận bằng Quốc ngữ hiện đại; kỳ Đệ tứ, thi lịch sử nước Pháp, cách trí, địa dư, nhân vật, thời sự. Như vậy, cách giáo dục theo kiểu phương Tây, cụ thể là của Pháp đã đi vào nhà trường và thi cử. Khoa Kỷ Mùi, năm Khải Định thứ 4(1919) là khoa thi Tiến sĩ Nho học cuối cùng trong lịch sử giáo dục nước nhà, tuy vậy, chữ Hán, chữ Nôm vẫn được học và sử dụng ở mức độ nhất định trong công văn, giao dịch, trong các công trình văn hoá, xã hội. Nền giáo dục Nho học đã kết thúc cách đây gần một thế kỷ, nhưng ảnh hưởng của nó còn sâu đậm trong đời sống xã hội và để lại một di sản văn hoá vô cùng to lớn cho dân tộc.
Nước ta, từ thời Đinh-Lê, việc thi cử thế nào, nay chưa có cứ liệu để khảo cứu; từ thời Lý- Trần, quốc sử ghi được những nét đại lược; từ thời Lê sơ về sau mới được ghi chép chu đáo.
Sự nghiệp giáo dục của thời đại nào phải đặt vào hoàn cảnh lịch sử của thời đại đó mới có nhận định khách quan. Nền giáo dục của thời phong kiến tuy còn một số hạn chế về nội dung, phương pháp, đối tượng đào tạo, nhưng do chú trọng về giáo dục nhân văn, rèn luyện kỹ năng, thi cử nghiêm minh, trọng thị sau khi đỗ, nên đã đào tạo được nhiều nhân tài xuất chúng, tài đức vẹn toàn. Trong hoàn cảnh lịch sử đó, sĩ tử Xứ Đông đã có nhiều cố gắng, đạt thành tích xuất sắc. Điển hình là Khoa Đinh Mùi, năm Hồng Đức 18(1487), lấy đỗ 60 người, Xứ Đông có 21 người, chiếm trên một phần ba số Tiến sĩ cùng khoa, trong đó có Trạng nguyên, Bảng nhỡn, 12 Hoàng giáp, 7 Đệ tam giáp đồng tiến sĩ xuất thân. Khoa Giáp Thìn, Hoằng Định thứ 5(1604), trên 5.000 sĩ tử dự thi, chỉ trúng tuyển có 7 người, trong có có 4 thí sinh của trấn Hải Dương. Khoa Thịnh Đức thứ 4(1656), cả nước có gần 3.000 sĩ tử dự thi, ai cũng hy vọng tên mình được ghi vào bảng vàng, bia đá, nhưng sau khi chấm quyển, khớp phách, quan trường chỉ lấy đỗ 6 người, tức 500 người chỉ có 1 người đỗ, trong khi đó có 3 anh em họ Vũ của làng Mộ Trạch, thật đáng khâm phục.
Trong ngót một nghìn năm đào tạo và tuyển chọn nhân tài bằng chương trình Nho học, từ khoa thi đầu tiên, năm 1075, đến khoa thi cuối cùng, năm 1919, cả nước nay đã biết ngót 2.900 tiến sĩ và học vị tương đương, con số này còn thấp so với thực tế, song số còn thiếu cũng không nhiều; trong đó Hải Dương đến nay đã biết 643 người trúng tuyển, chiếm trên 22% của cả nước. Trên địa dư hiện tại, Hải Dương cũng có 491 Tiến sĩ. Trên đơn vị huyện, Nam Sách có 124, Bình Giang 104, Cẩm Giàng 53 Tiến sĩ. Theo đơn vị xã thời phong kiến, thường gọi là làng, Mộ Trạch(Bình Giang) có 39 (36 người có tên trong Đăng khoa lục), Uông Hạ( Nam Sách) 12, Nhân Lý( Nam Sách) 11, Lương Ngọc( Bình Giang) 10 Tiến sĩ. Có thể nói, Hải Dương đứng hàng đầu cả nước về số Tiến sĩ Nho học trên cả 3 cấp: tỉnh, huyện và xã.
Tiến sĩ trẻ nhất là Đinh Lưu, người làng An Dật, huyện Thanh Lâm, nay thuộc xã Thái Tân, huyện Nam Sách, sinh năm Kỷ Hợi(1479), 18 tuổi, đỗ Thám hoa, khoa Bính Thìn, niên hiệu Hồng Đức 27(1496). Người đỗ muộn nhất là Đặng Thì Mẫn, người làng An Lạc (Nam Sách), 65 tuổi, đỗ khoa Quý Sửu, niên hiệu Hoằng Định 14(1613). Tuy đã cao tuổi, ông vẫn được bổ nhiệm Hiến sát sứ.
Xứ Hải Dương đã từng có 2 người là nữ giới tham dự thi Đại khoa, đương nhiên là phải cải trang, vì dưới chế độ phong kiến Việt Nam, nữ giới không được dự thi. Thời Lê Sơ có Bùi Thị Hý(1420-1499), quê làng Quang Ánh (Gia Lộc), thi đến tam trường thì bị phát giác, sau trở thành nữ tài sản xuất đồ gốm mỹ nghệ và kinh doanh với các nước. Thời Mạc có Nguyễn Thị Duệ(1574-1657 ? ), quê làng Kiệt Đặc(Chí Linh), thi tại Cao Bằng, qua được tứ trường, đến khi dự yến mới bị phát giác, sau trở thành trí thức lớn ở thời Lê Trung hưng.
Truyền thống hiếu học và có số người trúng tuyển cao trong các kỳ thi đại khoa bắt buồn từ đâu ? Điều đó có thể thấy được trên ba nguyên nhân cơ bản:
Thứ nhất: Xứ Đông kế cận Kinh đô, có ảnh hưởng tích cực nền văn hoá Thăng Long, sớm trở thành một miền quê văn hiến, việc học và thi có thuận lợn hơn nhiều vùng khác. Khi kinh đô chuyển vào Huế, số tiến sĩ Hải Dương giảm hẳn qua mỗi kỳ thi, tất nhiên sự sụt giảm này còn có vấn đề chính trị.
Thứ hai: Hải Dương là vùng đất trù phú, giao thông thuận tiện, kinh tế ổn định đó là nền tảng cho giáo dục phát triển, đúng như người xưa nó “ có thực mới vực được đạo”, kể cả đạo học.
Thứ ba: Hải Dương có nhiều người làm việc trong triều đình phong kiến, có điều kiện giáo dục con em. Truyền thống hiếu học sớm hình thành trong từng gia đình, từng chi họ, từ đó ảnh hưởng đến các làng xã.
Nền giáo dục dân tộc và hiện đại chỉ thực sự ra đời từ sau Cách mạng tháng Tám, năm 1945, đến nay đã đạt được thành tựu to lớn và khá toàn diện.
Ngày nay, việc thi tuyển đã trở thành thông lệ của quốc gia cũng như quốc tế. 40 năm qua, thông qua các kỳ thi quốc tế về Toán, Vật lý, Ngoại ngữ, Tin học..., đoàn học sinh Việt Nam luôn luôn giành giải cao, đứng vào tốp đầu của thế giới, khẳng định trí thông minh và truyền thống hiếu học của dân tộc. Trong số học sinh được giải quốc tế, không ít người Hải Dương. Giáo dục phổ thông hiện nay của Hải Dương vẫn là một tỉnh xuất sắc của cả nước, hằng năm có tới 7- 8 nghìn học sinh trúng tuyển vào các trường đại học và cao đẳng. Ở bậc đại học và cao học, nhiều người có những công trình khoa học lớn, xứng danh trí thức xứ Đông, góp phần quan trọng vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc, đóng góp tích cực vào nền văn minh của quốc gia và quốc tế. Đó là truyền thống quý báu của ông cha mà các thế hệ hôm nay và mai sau có trách nhiệm thừa kế và phát huy.
VĂN MIẾU MAO ĐIỀN

Văn miếu là nơi thờ Khổng Tử, người sáng lập trường phái Nho học, nhà tư tưởng vĩ đại thời Xuân Thu buổi mạt kỳ, nhà hoạt động chính trị và giáo dục xuất sắc, người biên soạn những bộ sách kinh điển bất hủ, trở thành một triết gia lỗi lạc thời cổ đại. Học thuyết của ông từng bước được hoàn thiện, có ảnh hướng sâu sắc đến nền giáo dục, chính trị, văn hoá của Trung Quốc và nhiều nước láng giềng ở những thiên niên kỷ sau công nguyên, trong đó có Việt Nam.
Nói Văn miếu là nơi thờ Khổng Tử là nói đại thể, thực tế Văn miếu còn thờ Tứ phối, những học trò xuất sắc của người được phối thờ cùng thầy(Nhan Uyên, Tăng Sâm, Tử Tư, Mạnh Tử) và Thất thập nhị hiền, tức 72 Nhà nho tiêu biểu của Trung Quốc. Trong Thất thập nhị hiền, người ta lại chọn lấy 10 người tiêu biểu, gọi là Thập triết.
Thời đại phong kiến Việt Nam vốn trọng Nho học, lấy Nho học làm rường cột cho việc đào tạo nhân tài phục vụ nhà nước đương thời, nên từ năm Thần Vũ thứ 2, đời Lý Thánh Tông (1070), đã cho xây Văn miếu, thờ Khổng Tử, Tứ Phối và các vị Tiên hiền. Đến năm Thiệu Khánh thứ nhất (1370), lại phối thờ Chu Văn An, nhà giáo nổi tiếng về tài năng, đức độ và chí khí thời Trần. Như vậy, Văn miếu là nơi thờ người sáng tạo đạo Nho và những nhà giáo mẫu mực, việc đó nghĩa là tôn vinh sự nghiệp giáo dục và khuyến học.
Giáo dục là sự nghiệp cao cả của muôn đời, là nền tảng của mọi sự nghiệp. Tôn vinh sự nghiệp giáo dục thì trước hết phải tôn trọng thầy, sau là phải tôn trọng trí thức, bởi trí thức hay nhân tài là sản phẩm và mục tiêu của giáo dục. Vì lý do thứ hai này mà Văn miếu thường có Tiến sĩ đề danh bi, tức bia ghi tên những vị tiến sĩ đỗ từng khoa. Ở văn chỉ cấphuỵen, xã ghi đến cử nhân, tú tài.
Tại các trấn, lộ, đến thời Lê sơ mới nói đến việc xây dựng Văn miếu, bên cạnh Văn miếu thường là trường học và trường thi tương tự như Văn miếu quốc tử giám ở Thăng Long; chỉ có điều ở trấn, lộ chỉ là nơi thi Hương, tức thi bậc Hương cử, hay Cử nhân và Tú tài. Nơi thờ Khổng Tử và các bậc Tiên hiền ở cấp huyện và cấp xã gọi là Văn chỉ, do Hội Tư văn chủ trì xây dựng và quản lý.
Những người thi tiến sĩ Nho học không chỉ thi lịch sử, văn chương, chính trị mà có cả địa lý, toán học, tuy tri thức về môn này không lớn. Vì vậy, Văn miếu là nơi tôn vinh nền giáo dục, nơi khuyến học theo tư tưởng Nho giáo không thuần tuý thờ thần văn chương.
Văn miếu tuy có từ đầu TK XI, nhưng phải đến cuối TK XV mới có lệ bia Tiến sĩ, công việc này được thực hiện cho đến đầu TK XX. Không phải trấn, lộ, huyện, xã nào cũng có Văn chỉ, Văn miếu, mà phải là những nơi có nhiều các vị đỗ đại khoa và có truyền thống hiếu học.
Văn miếu Hải Dương là Văn miếu cấp trấn, lộ, đến năm Minh Mệnh 12(1831) gọi là tỉnh. Vì đặt trên đất Mao Điền mà gọi là Văn miếu Mao Điền. Việc khắc bia tiến sĩ ở Văn miếu hàng tỉnh mới được thực hiện ở cuối TK XIX, nhưng ở Văn chỉ làng xã nhiều nơi được khắc sớm hơn. Văn miếu Hải Dương đến nay chưa tìm được một bia tiến sĩ nào, mặc dầu bia ghi việc trùng tu, tôn tạo vẫn còn. Cũng có ý kiến cho rằng, trước đã có bia nhưng đã bị đập phá. Điều đó khó xảy ra, vì nếu bia tiến sĩ Hải Dương đã khắc phải có một số lượng rất lớn, không dễ gì phá huỷ hoàn toàn. Rất có thể vào cuối TK XIX, khi một số tỉnh có điều kiện khắc bia tiến sĩ, thì ở Hải Dương, tình hình chính trị, quân sự không ổn định làm cho việc khắc bia không thực hiện được.
Ngày nay, chúng ta bảo tồn, tôn tạo Văn miếu mục đích chính là giữ gìn truyền thống hiếu học và khuyến học, duy trì những yếu tố tích cực của Nho học. Văn miếu phải là một Bảo tàng về giáo dục, nơi tôn vinh những học sinh xuất sắc trên mọi lĩnh vực, những vị có học vị tiến sĩ, học hàm giáo sư, những người có cống hiến to lớn nghiệp khoa học và văn học cho Nhà nước và địa phương.
Văn miếu Mao Điền nguyên là hai công trình hợp thành: Trường thi và Văn miếu. Trường thi hương của trấn Hải Dương tồn tại ở Mao Điền suốt triều Hậu Lê, ở đây mỗi khoá có hàng nghìn sĩ tử lều chõng dự thi, cánh đồng Tràng chính là nơi dựng lều chõng mỗi mùa thi hương. Hàng nghìn sĩ tử đỗ Hương cử ở đây để có điều kiện thi đại khoa. Theo Thiên Nam lịch triều liệt huyện đăng khoa bị khảo của Phạm Huy Ôn, thì tại Văn miếu Mao Điền đã có 4 kỳ thi Hội vào đầu triều Mạc. Chúng ta có quyền tự hào rằng, trường học và thi Mao Điền, trấn Hải Dương đã góp phần đào tạo hàng nghìn nhân tài cho đất nước, đây là một đóng góp to lớn cho quốc gia dưới thời đại phong kiến.
Văn miếu trấn Hải Dương nguyên ở làng Vĩnh Lại huyện Đường An, đến thời Quang Trung, được phép di về trường thi Mao Điền, tạo thành một quần thể kiến trúc văn hoá, rộng trên 10 mẫu ta, người xưa gọi là đất văn minh, một thắng tích của bản trấn. Từ năm Canh Thân(1800) đến năm Quý Mùi(1823) đã có 3 lần trùng tu tôn tạo. Công trình hiện còn mang dấu ấn của lần trùng tu cuối cùng.
Trong quá trình tồn tại, Văn miếu Mao Điền trải qua những giai đoạn thăng trầm. Năm 1947, giặc chiếm đóng, xây dựng ở đây một vị trí lớn, thuộc cấp quận. Từ năm 1976-1990, di tích bị xuống cấp nghiêm trọng, có nguy cơ sụp đổ hoàn toàn. Từ năm 1991- 1992, ngành Văn hoá-Thông tin, chính quyền và nhân dân địa phương đã bỏ nhiều công của quyết tâm khôi phục di tích, vì vậy, ngày 21-1-1993, khu di tích đã được xếp hạng Quốc gia. Từ đó được Nhà nước và chính quyền địa phương quan tâm, trùng tu tôn tạo khá hoàn thiện. Năm 2004, hoàn thành việc trung tu, tôn tạo bước một: tu bổ Tiền tế, Hậu cung, Đông vu, tái tạo Tam Quan, Tây vu, tôn tạo Gác chuông, Gác trống, Nhà bia và nhiều công trình phụ thuộc; đúc tượng Khổng Tử và những danh nhân tiêu biểu của địa phương: Chu Văn An, Mạc Đĩnh Chi, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Nguyễn Trãi, lập bài vị thờ Phạm Sư Mạnh, Tuệ Tĩnh, Vũ Hữu, Nguyễn Thị Duệ. Nay Văn miếu Hải Dương là một trong những văn miếu to, đẹp bậc nhất đất nước, một bảo tàng khuyến học của Hải Dương, có diện tích trên một vạn mét vuông.
Sau khi trùng tu tôn tạo Văn miếu, ngành Văn hoá đã có ý tưởng khắc bia tiên tiến sĩ, ý tưởng đó được chính quyền địa phương ủng hộ. Đây là một công trình văn hoá đặc biệt, có ý nghĩa giáo dục và nhân văn sâu sắc, chắn chắn được đời đời ngưỡng mộ và bảo tồn vĩnh viễn.

PHÀM LỆ SOẠN VĂN BIA

Hải Dương là một miền quê văn hiến, số lượng tiến sĩ Nho học rất lớn, mà số văn bia lại có hạn, nhưng phải chuyển tải nội nội dung không nhỏ, vì vậy cần có phương án hợp lý để biểu đạt những yêu cầu cơ bản như: truyền thống hiếu học, lịch sử văn miếu, tiểu sử từng tiến sĩ, từng khoa thi, để người đọc, sau khi xem văn bia, nắm được những thông tin cơ bản, tạo nên niềm tự hào và xúc cảm về một quá khứ huy hoàng của quê hương, tự mình vươn lên và giáo dục con em chuyên cần học tập trở thành người có sự nghiệp xứng đáng của ông cha, góp phần xây dựng quê hương, đất nước và tiến bộ xã hội. Như vậy, Bia tiến sĩ có mục đích vinh danh và khuyến học. Để đạt yêu cầu đó, Văn bia Tiến sĩ nho học Hải Dương đề danh ký được biên soạn như sau:
- Tài liệu tham khảo và thẩm tra tư liệu: Trước khi biên soạn, nhưng tư liệu liên quan đến Tiến Tiến sĩ Nho học đã được nghiên cứu ở mức độ cần thiết để trích lục những sự kiện thích hợp cho việc biên soạn văn bia như Quốc sử, Đăng khoa lục, bia tiến sĩ ở Văn miếu, bi ký ở các làng xã, gia phả và các tài liệu có liên quan. Những sự kiện có nghi vấn được thẩm tra tại các làng xã, để đảm bảo sự chân thực.
-Địa danh: Địa danh ở đất nước ta thường thay đổi qua từng triều đại, từng thời kỳ lịch sử, do nhiều nguyên nhân khác nhau, để đảm bảo sự minh xác, khoa thi vào năm nào, tên địa danh về quê hương từng tiến sĩ được ghi theo địa danh của năm ấy; gồm tên xã, huyện, lộ hay phủ; nay, tức thời điểm soạn văn bia thuộc thuộc xã, huyện nào. Xã trước cách mạng nay thường là một thôn của xã hiện đại, nếu không có thay đổi tên gọi thì chỉ ghi nay thuộc xã nào, trường hợp có thay đổi thì ghi tên mới, sau đó là tên xã và huyện, hay phường, phố nào.
-Địa giới: cũng thay đổi theo thời gian, địa giới biến động nhiều nhất vào thời kỳ đầu thực dân Pháp xâm lược. Để đảm bảo sự chính xác và khách quan, những tiến sĩ nào khi trúng tuyển, còn ghi quê thuộc thuộc Hải Dương thì được ghi trong văn bia, dù nay đã cắt về tỉnh khác, như số tiến sĩ có quê thuộc các huyện cũ của Hải Dương, nay thuộc tỉnh Bắc Ninh, Hưng Yên, Quảng Ninh, Hải Phòng; nếu khi ứng thí, quê hương đã cắt khỏi đất Hải Dương thì không có tên trong văn bia.
Ngược lại, những tiến sĩ quê tỉnh khác, nhưng miền quê đó nay đã cắt chuyển về Hải Dương thì vẫn được ghi trên bia.
-Sinh trú quán: những tiến sĩ có nguyên quán Hải Dương, nhưng trú quán ở nơi khác, hoặc trú quán ở Hải Dương, nhưng nguyên quán ở nơi khác đều được ghi đầy đủ trên bia cả nơi sinh quán và trú quán nếu chưa quá 3 đời.
-Họ tên: Lấy họ tên khi đi thi, có chú thích những trường hợp đặc biệt, sau khi thi được vua đổi tên, hoặc tự đổi tên, kèm theo tên hiệu, tên tự, trường hợp có sự lầm lẫn trong lịch sử sẽ có ghi chú xuất xứ. Ví dụ Nguyễn Hồng thành Nguyễn Cung, họ Dương thành họ Thang... Họ, tên tiến sĩ và địa danh được biên soạn trên tài liệu gốc của bia tiến sĩ ở văn miếu, văn chỉ, đăng khoa lục và các tài liệu lịch sử có liên quan.
-Quan hệ gia đình: văn bia chỉ ghi một số quan hệ huyết thống đăng khoa nhằm tôn vinh những gia đình có nhiều đời đỗ đại khoa, không ghi các mối quan hệ khác dù chức tước rất cao.
-Học vị: Văn bia chỉ ghi học vị Tiến sĩ hoặc tương đương ở những thứ bậc khác nhau, riêng thời Nguyễn ghi đến Phó bảng, đôi khi ghi đến Hương cử hay Cử nhân nhưng chỉ ghi khi đỗ thủ khoa để tôn vinh lực học trước khi đỗ tiến sĩ. Danh vị thời nào, ghi theo thời đó, có chú thích danh vị tương đương. Cần lưu ý, nhiều vị đỗ Giải nguyên (đỗ đầu thi Hương), Hội nguyên (đỗ đầu thi Hội), nhưng thi Đình chỉ đỗ Đệ tam giáp. Ngược lại có vị đỗ Đình nguyên, nhưng không có danh vị Trạng nguyên, vì nhiều khoa không lấy Đệ nhất giáp, thậm chí không lấy Đệ nhị giáp, tức Hoàng giáp. Khi có những sự kiện trên đều có chú thích. Từ thời Trần về sau, những người đỗ tiến sĩ được chia làm 3 bảng: Đệ nhất giáp thường lấy 3 người: Đệ nhất giáp đệ nhất danh tức Trạng nguyên, Đệ nhất giáp đệ nhị danh tức Bảng nhãn, Đệ nhất giáp đệ tam danh, tức Thám hoa. Để ngắn gọn mà vẫn đủ ý, văn bia chỉ ghi học vị Trạng nguyên, Bảng nhỡn, Thám hoa, mà bỏ cụm từ Đệ nhất, Đệ nhị, Đệ tam danh. Đệ nhị giáp đồng tiến sĩ xuất thân, tức Hoàng giáp, văn bia chỉ ghi Hoàng giáp. Đệ tam giáp đồng tiến sĩ xuất thân, văn bia chỉ ghi Đệ tam giáp. Bia tiến sĩ Quốc tử giám Thăng Long, thời Lê thường ghi xuất thân của sĩ tử khi đi thi, như xuất thân Tri huyện, Giám sinh, ..., văn bia này không ghi, thay vào đó là sự nghiệp Tiến sĩ sau khi trúng tuyển. Trong từng giáp, người đỗ điểm cao ghi trước, người đỗ điểm thấp ghi sau như trong văn bia Quốc tử giám hoặc Đăng khoa lục đã ghi.
-Khoa thi: ghi theo Can Chi và niên hiệu từng đời vua theo biên niên, phần chữ Quốc ngữ có ghi chú năm Dương lịch. Các khoa thời Lý -Trần không có tư liệu về số sĩ tử dự thi và số người trúng tuyển cũng chỉ ghi được vài khoa nhưng không đủ danh tính; từ thời Lê về sau, đều ghi được số người trúng tuyển từng khoa, trong đó có bao nhiều người của Hải Dương, tuy nhiên cũng không phải khoa nào cũng ghi được đầy đủ. Số người ứng thí từng khoa, nếu có số liệu, đều được ghi để tiện đối chiếu tỷ lệ lấy đỗ của từng khoa. Văn bia chỉ ghi những khoa có người Hải Dương trúng tuyển.
-Sự nghiệp: Hầu hết Tiến sĩ sau khi trúng tuyển được bổ nhiệm quan chức ở các thứ bậc khác nhau, văn bia chỉ ghi những chức vị tiêu biểu đến nay đã biết, trừ một số trường hợp, tiến sĩ sau khi đỗ chưa nhậm chức đã qua đời, hoặc lịch sử không ghi được sự nghiệp nên không có tên quan chức trong văn bia. Nếu có sự nghiệp khoa học hoặc văn chương đều được ghi là Tác gia hoặc Nhà khoa học về lĩnh vực nào đó. Thông lệ, mỗi Tiến sĩ chỉ ghi trên dưới 40 chữ, trừ vài trường hợp đặc biệt số lượng chữ có nhiều hơn.
-Việc thi cử: đều có lời dẫn tối thiểu để người đọc thấy đặc điểm và thể thức thi cử của từng triều đại, từng thời kỳ, thậm chí từng khoa.
-Biệt lục: Một số trường hợp đỗ đạt còn nghi vấn được ghi vào phần biệt lục của từng khoa, một vài người trúng cách qua thi Hội, nhưng vì lý do nào đó không thi Đình mà Đăng khoa lục có ghi danh, vẫn có tên trên văn bia, nhưng đều có ghi chú.
-Bổ di: phần cuối của bia cuối cùng có dành một phần lưu không để ghi những Tiến sĩ mới phát hiện, hoặc sự kiện cần bổ sung, sau khi văn bia đã hoàn tất.
-Văn tự: Bia tiến sĩ Nho học Hải Dương được biên soạn bằng hai thứ chữ. Mặt trước khắc chữ Hán, thứ chữ chính thống dùng trong thi cử thời phong kiến từ khoa thi đầu tiên đến khoa thi cuối cùng (1075-1919) để người đời sau nhớ về một loại văn tự mà dân tộc ta đã sử dụng trong giáo dục, hành chính và chuyển tài tri thức lịch sử, văn hoá trên hai nghìn năm, qua đó thấy được khổ công học tập của người xưa, từ đó có ý thức bảo tồn và phát huy trong thời đại mới. Trường hợp đặc biệt có dùng chữ Nôm. Chữ trong văn bia dùng loại chữ chân và phồn thể, mẫu tự lấy trong vi tính. Chữ ở trán bia dùng một số thể khác nhau để tạo sự phong phú về thư pháp và mỹ thuật. Mặt sau khắc Quốc ngữ hiện đại, chọn những mẫu chữ đẹp và dễ thi công khi khắc trên đá.
-Cách trình bày: Bia Tiến sĩ Nho học Hải Dương tuy khá lớn, nhưng mỗi bia phải chuyển tải một lượng thông tin không nhỏ(khoảng 3000 từ). Để dễ trình bày và tiết kiệm diện tích, mặt trước chia làm 3 phần theo chiều ngang, khắc chữ Hán từ trên xuống dưới, từ phải sang trái, theo cách viết văn tự cổ, tiểu sử mỗi Tiến sĩ từ 2-3 dòng, mỗi dòng trên dưới 20 chữ. Mỗi phần khắc từ 10-20 tiểu sử Tiến sĩ và đề dẫn thi tuyển của từng triều đại, tuỳ theo từng bia. Mặt sau, khắc Quốc ngữ hiện đại, mặt bia chia dọc làm 2 phần, chữ khắc từ trên xuống dưới, từ trái sang phải theo thông lệ để tiết kiệm diện tích, dễ trình bày và dễ đọc. Danh tính tiến sĩ được khắc lớn hơn chữ thường, thể hiện sự trân trọng và dễ nhận biết( xem sơ đồ). (1)
Tổng số bia khắc dựng trong kỳ này là 14, khoảng 5 vạn chữ, thể hiện bằng 2 thứ chữ, giới thiệu truyền thống hiếu học, lịch sử văn miếu và tiểu sử 643 tiến sĩ Nho học ở các thứ hạng của Hải Dương. Bia I: Nó về truyền thống hiếu học, lịch sử Văn miếu Mao Điền và phàm lệ; Bia II, Tiến sĩ thời Lý, Trần, Hồ, có 32 vị; Bia thứ III-VI, Tiến sĩ thời Lê Sơ, có 292 vị; Bia VII-IX, Tiến sĩ thời Mạc, có 162 vị; Bia X-XIII: Tiến sĩ thời Lê Trung Hưng, có 137 vị; Bia XIV: Tiến sĩ thời Nguyễn, 20 vị. Văn bia đã được Viện Hán- Nôm thẩm định, Hội đồng khoa học của tỉnh duyệt, cho khắc dựng.
                                                                                                                                                                    Tăng Bá Hoành

Triều Lý (1010-1225)
Sau khi dời đô từ Hoa Lư ra Thăng Long, năm Canh Tuất, niên hiệu Thần Võ thứ 2(1070), tháng 8, Vua Lý Thánh Tông cho lập Văn miếu, thờ Khổng Tử và Tứ phối ở phía nam Kinh thành Thăng Long, nhằm tôn vinh Nho giáo và cho Hoàng tử đến học ở đây. Năm Ất Mão, Thái Ninh thứ 4(1075), tháng 2, Vua Lý Nhân Tông xuống chiếu mở kỳ thi tuyển Minh kinh bác học và Nho học tam trường. Đây là kỳ thi đại khoa đâu tiên của nước nhà, vị đỗ đầu là Lê Văn Thịnh, người làng Đông Cứu, nay thuộc huyện Gia Bình, tỉnh Bắc Ninh. Thời Lý, đến nay quốc sử chỉ ghi được số người đỗ của 5 khoa, gồm 46 vị, còn lại chỉ ghi được năm thi mà không ghi được số người đỗ. Như vậy, số người đỗ đại khoa triều Lý còn thiếu nhiều so với con số đã ghi được, vì vậy không lạ, khi đó đây trong các làng xã vẫn ghi được các vị đại khoa trong thời kỳ này mà Đăng khoa lục không có. Khoa Ất Tỵ(1185), lấy người đỗ đầu ở hai lưa tuổi: 16-18 và từ 19 trở lên. Ở vùng đất Hải Dương khi đó, đến nay mới biết có 5 người đỗ đại khoa, trong đó có Mặc Hiển Tích là người khai khoa.

1-Mạc Hiển Tích : Người xã Long Động, sau cải thành Lũng Động, Nam Sách giang, Hậu Lê thuộc huyện Chí Linh, nay thuộc xã Nam Tân, huyện Nam Sách; đỗ đầu khoa thi chọn người giỏi văn học, năm Bính Dần, niên hiệu Quảng Hựu thứ 2 (1086 ), được tuyển làm Hàn lâm viện học sĩ đầu tiên, sau thăng đến Thượng thư; có biệt tài về chính trị, từng đi sứ Chiêm, năm Hội Phong thứ 4(1094); là tổ 5 đời của Trạng nguyên Mạc Đĩnh Chi, triều Trần.

2- Mạc Kiến Quan : Người xã Long Động, em Mạc Hiển Tích, đỗ khoa Thủ tuyển năm Kỷ Tỵ, Quảng Hựu thứ 5 (1089), vinh thăng Công bộ lịch sĩ Thượng thư .

3- Bùi Quốc Khái: Người xã Bình Lãng, huyện Đa Cẩm, lộ Hồng, nay thuộc thôn Bình Phiên, xã Ngọc Liên, huyện Cẩm Giàng, sinh khoảng năm Kỷ Mão(1169). Đỗ đầu khoa Ất Tỵ(Trạng nguyên), năm Trinh Phù thứ 10 (1185), chọn người giỏi thi, thư, lứa tuổi từ 15-18, được vào chầu vua học ở Ngự điện. Làm quan đến chức Đô ngự sử, hưng công xây dựng chùa Thiên Niên, phường Quất Sài, tại Thăng Long.

4- Đỗ Thế Diên: Người hương Cổ Liêu, thời Lý dến TK XIX thuộc huyện Đường Hào (Hải Dương), nay thộc thôn Thanh Xá, xã Nghĩa Hiệp, huyện Yên Mỹ, tỉnh Hưng Yên, mùa xuân năm Ất Tỵ, Trinh Phù thứ 10(1085), đỗ đầu khoa Thi thư (Trạng nguyên), lứa tuổi từ 19 trở lên. Làm quan đến Triều nghị Đại phu, Thủ nội thị sảnh, Đồng tri Quảng Từ cung công sự, kiêm Phán thẩm hình viện, hàm Trụ quốc, về trí sĩ, được ban Kim ngư đại, sau khi mất được tôn Phúc thần.
5- Phạm Tử Hư: Người xã Nghĩa Lư, huyện Đa Cẩm, lộ Hồng, nay thuộc thôn Nghĩa Phú, xã Cẩm Vũ, huyện Cẩm Giàng. Đỗ Đệ tam giáp khoa thi Thái học sinh năm Mậu Thìn, niên hiệu Kiến Gia thứ 3 (1213) làm đến Tham tụng, Lại bộ Thượng thư, phong Trình quốc công. Ông có cháu là Phạm Văn Tuấn, chắt là Phạm Văn Hoán đều đỗ tiến sĩ.

Triều Trần(1226-1400):

Tháng 12 năm Ất Dậu(1/1226), Trần Cảnh lên ngôi, lấy niên hiệu là Kiến Trung, mở đầu triều Trần. Hơn một năm sau, nhà Trần đã mở khoa thi Tam giáo, nhưng khoa thi Nho học đầu tiên chỉ bắt đầu từ năm Kiến Trung thứ 8(1232), người trúng tuyển được chia làm 3 giáp, tức 3 hạng theo thứ bậc khác nhau, cách chia này được thừa kế đến triều Nguyễn. Khoa Đinh Mùi, niên hiệu Thiên ứng Chính Bình thứ 16(1247), lần đầu tiên đặt danh vị Tam khôi để tôn vinh 3 người đỗ Đệ nhất giáp, Nhất: Trạng Nguyên, Nhì: Bảng nhãn, Ba: Thám hoa hay Thám hoa lang. Từ Khoa Bính Thìn, năm Nguyên Phong thứ 6(1256), lại định lệ lấy 2 Trạng nguyên trong một khoá, Kinh Trạng nguyên, dành cho người đỗ đầu ở các trấn, lộ gần kinh đô, Trại Trạng nguyên, dành cho người đỗ đầu ở vùng xa kinh đô, như Thanh-Nghệ trở vào. Thời Trần quy định 7 năm thi Thái học sinh một lần, nhưng do giặc Nguyên ba lần xâm lược nên định lệ không được thực hiện. Khoa thi Giáp Thìn, niên hiệu Hưng Long thứ 12(1304), hàng ngàn sĩ tử dự thi, có tới 44 người trúng tuyển. Kể từ khoa này, những sĩ tử đỗ Đệ nhị giáp được gọi là Hoàng giáp. Đến nay, quốc sử chỉ ghi được 10 khoa thi với trên 273 người trúng tuyển, như vậy là còn thiếu so với thực tế. Số thiếu sót này hy vọng được bổ sung dần qua từng năm từ bia ký và gia phả các dòng họ, khi được xác minh có đủ bằng cứ. Triều Trần, nay đã biết, Hải Dương có 25 vị trúng tuyển đại khoa.

6- Trương Hanh : Người xã Mạnh Tân, huyện Trường Tân, lộ Hồng, nay thuộc xã Gia Lương, huyện Gia Lộc. Đỗ đệ nhất giáp, khoa thi Thái học sinh năm Nhâm Thìn, niên hiệu Kiến Trung thứ 8 (1232), làm quan đến chức Thượng thư.

7- Phạm Văn Tuấn : Người xã Nghĩa Lư, huyện Đa Cẩm, lộ Hồng, nay là thôn Nghĩa Phú, xã Cẩm Vũ, huyện Cẩm Giàng. Đỗ Bảng nhãn khoa Bính Ngọ, niên hiệu Thiên ứng Chính Bình 15 (1246), thi Đại tỉ thủ sĩ. Làm quan đến chức Hành khiển, hàm Thái phó, tước Trình Quốc công. Khi mất được tặng chức Tư đồ.

8- Vũ Vị Phủ : Còn có tên Vũ Nạp hay Vũ Đại, người xã Mộ Trạch, huyện Đường An, lộ Hồng, nay thuộc xã Tân Hồng, huyện Bình Giang. Đỗ Ất khoa thi Thông tam giáo, năm Đinh Mùi, năm Thiên Ứng Chính Bình thứ 16 (1247), tham gia 3 lần kháng chiến chống Nguyên Mông, được phong Đồng Giang hầu, Tả tướng quân. Hiện còn lăng mộ tại thị trấn Minh Đức, huyện Thuỷ Nguyên, Hải Phòng.

9- Tạ Tướng Công : người làng Mộ Trạch, huyện Đường An, lộ Hồng nay thuộc xã Tân Hồng, huyện Bình Giang, đỗ khoa Tam giáo năm Đinh Mùi, Thiên ứng Chính Bình thứ 16(1247). Làm quan đến chức Nhập nội hành khiển, Đông Trung thư môn hạ, hàm Tam phẩm, về trí sĩ (theo bia Văn chỉ Bình Giang).

10- Nguyễn Thuyên: người xã Lai Hạ, huyện Thanh Lâm, nay thuộc xã Lai Hạ, huyện Lương Tài, tỉnh Bắc Ninh. Đỗ Thái học sinh khoa Đinh Mùi, Thiên Ứng Chính Bình thứ 16(1247). Làm quan đến chức Thượng thư Bộ Hình. Vua Trần Nhân Tông sai ông làm thơ ném xuống sông trừ cá sấu, hiệu nghiệm, được đổi sang họ Hàn nên thường gọi là Hàn Thuyên. Ông là một trong những người làm thơ bằng chữ Nôm đầu tiên.

11- Trần Quốc Lặc : Người xã Uông Hạ, huyện Thanh Lâm, nay thuộc thôn Uông Hạ, xã Minh Tân, huyện Nam Sách. Đỗ kinh Trạng Nguyên, khoa thi Thái học sinh, năm Bính Thìn, Nguyên Phong thứ 6 (1256). Khoa này danh hiệu Trạng Nguyên lấy 2 người, một Kinh trạng nguyên, một Trại trạng nguyên. Được vua gả công chúa. Sau khi mất được phong làm Phúc thần.

12- Trần Uyên: người xã Liêu Xá, huyện Đường Hào (Hải Dương), nay thuộc xã Liêu Xá, huyện Yên Mỹ, tỉnh Hưng Yên, đỗ Thám hoa, khoa Bính Thìn, niên hiệu Nguyên Phong thứ 6(1256), làm quan đến chức Đại học sĩ, về trí sĩ.

13- Trần Cố : nguyên quán xã Phạm Triền, huyện Thanh Miện, lộ Hồng, nay là thôn Phạm Lý, xã Ngô Quyền, huyện Thanh Miện, trú quán xã Phù Chẩn, huyện Đông Ngàn, Bắc Ninh, nay là thôn Phù Chẩn, xã Phù Chẩn, huyện Tiên Sơn, Bắc Ninh. Đỗ Kinh Trạng nguyên, khoa thi Thái học sinh năm Bính Dần, Thiệu Long thứ 9 (1266). Làm quan đến chức Thiên chương các, Đại học sĩ.

14- Bạch Liêu : Nguyên quán Nghệ An, Trú quán xã Nghĩa Lư, huyện Thanh Lâm, nay là xã An Lâm, huyện Nam Sách. Đỗ trại Trạng nguyên khoa Thái học sinh, năm Bính Dần, Thiệu Long thứ 9 (1266). Ông là chiêu khách của Chiêu Minh vương. Khi Trần Quang Khải vào cai quản khu Nghệ An, ông chỉ làm gia khách mà không ra làm quan.

15- Hạ Nghi : Người xã Hạ Lạc, huyện Thanh Lâm, nay thuộc xã Đồng Lạc, huyện Nam Sách. Đỗ Thám hoa khoa thi Đại tỉ Thái học sinh, năm Bính Dần, năm Thiệu Long thứ 9 (1266). Làm quan đến chức Thị lang.

16-Mạc Đĩnh Chi (1272 - 1346) : Tự là Tiết Phu, người làng Lũng Động, huyện Cổ Châu, sau cải là Chí Linh, nay thuộc thôn Long Động, xã Nam Tân, huyện Nam Sách. Ông là hậu duệ Mạc Hiển Tích, tổ 7 đời của Mạc Đăng Dung. Đỗ Trạng nguyên khoa thi Thái học sinh năm Giáp Thìn, Hưng Long 12 (1304). Làm quan tới chức Nội thư gia, thăng tới Tả bộc xạ, Nhập Nội hành khiển, hai lần đi sứ Nguyên. Là tác gia văn thơ nổi tiếng.

17- Vũ Nghiêu Tá : Người xã Mộ Trạch, huyện Đường An, lộ Hồng, nay thuộc xã Tân Hồng, huyện Bình Giang. Đỗ Thái học sinh khoa Giáp Thìn, năm Hưng Long thứ 12 (1304) đời Trần Anh Tôn, làm quan đến chức Nhập Nội hành khiển, Môn hạ hữu thị lang.

18- Vũ Hán Bi : Người xã Mộ Trạch, huyện Đường An, lộ Hồng, nay thuộc xã Tân Hồng, huyện bình Giang. Đậu Thái học sinh năm Hưng Long thứ 12 (1304). Làm quan tới chức Nhập nội hành khiển, Thượng thư, Tả thị lang, Trung thư môn hạ. Khi mất được tặng Tả bộc xạ.

19- Phạm Sư Mạnh : Tự Nghĩa Phu, hiệu Uý Trai, người hương Kính Chủ, huyện Giáp Sơn, lộ Hải Đông, nay thuộc xã Phạm Mệnh, huyện Kinh Môn. Học trò của Chu Văn An, đỗ Thái học sinh khoa Ất Dậu, Thiệu Phong thứ 5(1345). Làm quan đến chức Nhập nội hành khiển, Hành khiển lang trung, coi việc Viện Khu mật, thăng Nhập nội nạp ngôn. Là tác gia thơ văn nổi tiếng.

20- Phạm Hoán : Con Tiến sĩ Phạm Văn Tuấn, người xã Nghĩa Lư, huyện Đa Cẩm, lộ Hồng, nay thuộc làng Nghĩa Phú, xã Cẩm Vũ, huyện Cẩm Giàng, đỗ Thái học sinh khoa Giáp Dần, năm Long Khánh thứ 2 (1374), làm đến chức Hàn lâm học sĩ.

21-Trương Đỗ: người làng Phù Đới, huyện Đồng Lại, lộ Hồng, nay là thôn Phù Tải, xã Thanh Giang, huyện Thanh Miện, có tài bắn cung. Đỗ Thái học sinh niên hiệu Thiệu Khánh thứ 2 (1371) (?). Làm quan đến chức Ngự sử đại phu, làm quan liêm chính, có biệt tài cung tên.

22- Nguyễn Ứng Long: Tự là Phi Khanh, hiệu là Nhị Khê, sinh năm Ất Mùi(1355), mất năm Mậu Thân (1428); nguyên quán làng Chi Ngại, huyện Phượng Sơn, nay thuộc xã Cộng Hoà, huyện Chí Linh; sau di cư về thôn Ngọc ổi, xã Nhị Khê, huyện Thượng Phúc (Hà Nội). Là thân phụ Nguyễn Trãi. Đậu Thái học sinh khoa Giáp Dần, năm Long Khánh thứ 2 (1374). Làm quan đến chức Đại lý thiếu khanh, Trung thư thị lang, Quốc Tử Giám tư nghiệp triều Hồ; là tác gia thơ văn nổi tiếng.

23- Lê Hiển Phủ : Người xã Trí An, sau đổi là Trí Giả, huyện Đông Triều, lộ Hải Đông, nay thuộc xã Thái Sơn, huyện Kinh Môn. Đỗ Bảng nhãn, khoa Giáp Dần, niên hiệu Long Khánh thứ 2 (1374). Làm quan đến chức Thị lang, Trung đại phu.

24- Trần Đình Thám : người xã Đa Phúc, huyện Đông Triều (Hải Dương), nay thuộc xã Tân Việt, huyện Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh. Đỗ Thám hoa khoa Giáp Dần, năm Long Khánh thứ 2( 1374). Làm quan đến chức Ngự sử, Trung tán đại phu, quyền Giám tu quốc sử, phụng mệnh đi sứ Minh.

25- Lê Cảnh Tuân : Tự Tử Mưu, hiệu Tính Trai, người xã Mộ Trạch, huỵen Đường An, nay thuộc xã Tân Hồng, huyện Bình Giang, Đỗ Thái học sinh khoa Tân Dậu, năm Xương Phù thứ 5(1381). Khi giặc Minh xâm lược, viết "Vạn Ngôn Thư" gửi Bùi Bá Kỳ thương thuyết với đối phương. Ông bị giặc bắt sang Yên Kinh (Trung Quốc), mất tại nơi lưu đày, nêu gương sáng về trung nghĩa. Là tác gia nổi tiếng.

26- Bùi Bá Kỳ : Người xã Phù Nội, huyện Đường An, lộ Hồng, nay là làng Triều Nội, xã Hùng Sơn, huyện Thanh Miện, đỗ Thái học sinh khoa Tân Dậu, năm Xương Phù thứ 5(1381), bị nhà Minh bắt sang Kim Lăng, vì khi khám nhà thấy "Vạn ngôn thư". Chết tại Kim Lăng, nhà Minh, được phong Phúc thần làng Triều Nội.

27- Hồ Tông Thốc: người làng Vô Ngại, huyện Đường Hào, lộ Hồng, nay thuộc xã Ngọc Lâm, huyện Mỹ Hào, tỉnh Hưng Yên, nguyên quán làng Phù Trạch, huyện Thổ Thành, nay thuộc huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An,; đỗ Trạng nguyên, khoa Tân Dậu, năm Xương Phù thứ 5(1381); làm quan đến chức Hàn lâm học sĩ, Thẩm hình viện sự, từng đi sứ Nguyên.

28- Lý Tử Cấu : người huyện Đường An, đậu Thái học sinh khoa Tân Tỵ, năm Xương Phù thứ 5(1381), triều Hồ được bổ làm Hữu dụ đức lễ, dạy Thái tử, nhưng đã từ chối. Giặc Minh sang chiếm nước nhà, muốn bổ làm quan, nhưng ông không theo, bỏ đi ẩn dật, lấy ngâm vịnh làm vui. Đến triều Lê sơ, Nguyễn Mộng Tuân tiến cử, nhưng cũng từ chối, ông trung thành với nhà Trần nên không cộng tác với các triều đại khác .

29- Đồng Thức : người xã Phụ Vệ, huyện Chí Linh, nay thuộc xã Ái Quốc, huyện Nam Sách. Đỗ khoa Thái học sinh năm Quý Dậu, năm Quang Thái thứ 6(1393). Làm quan triều Trần tới chức Thị lang. Triều Hồ, giữ chức Ngự sử trung tán, được cho đổi làm họ Nguỵ (có ý ví với Nguỵ Trưng), mất năm Khai Đại thứ 4(1407).

Biệt lục
30- Nguyễn Bá Tĩnh: pháp hiệu là Tuệ Tĩnh, biệt hiệu Hồng Nghĩa, người xã Nghĩa Lư, huyện Đa Cẩm, lộ Hồng, nay thuộc thôn Nghĩa Phú, xã Cẩm Vũ, huyện Cẩm Giàng, 22 tuổi đỗ Hoàng giáp khoa Tân Hợi, năm Thiệu Khánh thứ 2 (1371). Không ra làm quan, đi tu, làm thuốc chữa bệnh, trở thành Đại danh y, cuối đời bị đi cống Nhà Minh, khi mất được tôn là Thánh thuốc nam, có nhiều công trình khoa học y dược học nổi tiếng.

Triều Hồ (1400-1407)

Tháng 2 năm Canh Tuất(1400), Hồ Quý Ly truất ngôi Trần Thiếu Đế, tự lên ngôi vua, lấy quốc hiệu là Đại Ngu( nghĩa là niềm vui lớn). Làm vua chưa đầy một năm, Quý Ly nhường ngôi cho con là Hồ Hán Thương, trở thành Thái Thượng hoàng, cùng con trông coi việc nước. Nhà Hồ coi trọng Nho học. Vừa lên ngôi, Quý Lý đã cho mở khoa thi Thái học sinh năm Canh Thìn, niên hiệu Thánh Nguyên thứ nhất(1400), những người thi đỗ khoa này, đến nay vẫn chưa ghi được đầy đủ. Bốn năm sau(1404), Hồ Hán Thương xuống chiếu, quy định 3 năm thi Hội một lần, người đỗ thi Hương có thể lưu ở Thăng Long, học ở Quốc tử giám, chờ thi Hội. Sự nghiệp giáo dục của nhà Hồ đang phát triển thì giặc Minh xâm lược, vì vậy không có điều kiện phát huy. Triêù Hỗ, ở Hải Dương đến nay mới biết 1 người trúng truyền Thái học sinh.

31- Nguyễn Trãi: là con Nguyễn Phi Khanh, cháu ngoại Đại tư đồ Trần Nguyên Đán, sinh năm Canh Thân (1380); nguyên quán xã Chi Ngại, huyện Phượng Sơn, lộ Lạng Giang, nay thuộc xã Cộng Hoà, huyện Chí Linh; 21 tuổi, đỗ Thái học sinh, triều Hồ, khoa Canh Thìn, năm Thánh Nguyên thứ nhất (1400), cùng cha làm quan với nhà Hồ, được trao chức Ngự sử đài chánh chưởng. Năm Bính Thân (1416), tham dự hội thề Lũng Nhai, dâng bình Ngô sách, cùng Lê Lợi, lãnh đạo nghĩa quân Lam Sơn, chống giặc Minh lược, khi thắng lợi, được ban họ vua, tước Quan phục hầu. Ông từng giữ chức Nhập nội hành khiển, kiêm thượng thư Bộ Lại, Gián nghị đại phu, Hàn lâm viện thừa chỉ, Nhập thị kinh diên, Khu mật viện sự. Trong vụ án Lệ Chi Viên, ngày 16 tháng 8 năm Nhâm Tuất (1442), gia đình ông bị chu di; đến đời Lê Thánh Tông, được minh oan. Năm 1980 nhân dịp kỷ niệm 600 năm sinh, ông được tôn vinh là Danh nhân văn hoá thế giới.

Thời Lê sơ (1428-1527)

Đầu thế kỷ XV, nước ta bị giặc Minh xâm lược. Năm Mậu Tý(1418), Lê Lợi dựng cờ khởi nghĩa ở Lam Sơn( Thanh Hoá), năm Bính Ngọ(1426), tiến quân ra Đông Đô, tuy chưa giải phóng được thành Đông Quan, đã mở kỳ thi đại khoa, chọn nhân tài phục vụ chiến tranh chống ngoại xâm. Sau giải phóng đất nước một năm, Lê Lợi tổ chức ngay kỳ thi Minh kinh bác sĩ đầu tiên vào năm Kỷ Dậu (1429), nhưng phải đến khoa Nhâm Tuất, năm Đại Bảo thứ 3(1442), việc thi cử mới được tổ chức chính quy và chu đáo. Cũng từ đây, có lệ 3 năm một lần thi Hương và thi Hội liền kề năm sau. Vua Lê Thái Tông còn ban mũ áo, cho dự yến ở vườn Quỳnh Lâm, cấp ngựa tốt, cho lính rước Tiến sĩ tân khoa vinh quy, bái tổ rất trọng thị. Năm Quang Thuận thứ 3(1462), Thánh Tông cho thi Hương ở trường thi các xứ vào các năm Tý, Mão, Ngọ, Dậu; thi Hội vào các năm Sửu, Thìn, Mùi, Tuất. Người đỗ thi Hương gọi là Hương cống. Danh xưng các giáp cũng có thay đổi. Đỗ Đệ nhất giáp gọi Đệ nhất giáp Tiến sĩ cập đệ; Đệ nhị giáp gọi là Đệ nhị giáp Tiến sĩ xuất thân, hay Hoàng giáp; Đệ tam giáp gọi là Đồng Tiến sĩ xuất thân. Cũng từ khoa này có lệ ban Cờ Tam khôi, truyền lô xướng danh ở cửa nhà Thái học, treo Bảng Vàng tân khoa ở cửa Đông Hoa. Từ năm Giáp Thìn, Hồng Đức thứ 15(1484), có lệ dựng bia Tiến sĩ đề danh ký với nghi lễ rất long trọng, nhằm mục đích khuyến học. Thời Lê sơ tròn 100 năm, có 31 kỳ thi Đại khoa, lấy đỗ 647 Tiến sĩ, trong đó Xứ Đông đến nay đã biết 292 vị.

Khoa Nhâm Tuất, niên hiệu Đại Bảo thứ 3 (1442),
450 người dự thi, lấy đỗ 33, Hải Dương có 7 vị trúng tuyển

32- Lương Như Hộc : tự là Tường Phủ, người xã Hồng Lục, huyện Trường Tân, châu Hạ Hồng, nay là thôn Thanh Liễu, xã Tân Hưng, huyện Gia Lộc. đỗ Thám hoa; làm quan đến Hàn lâm trực học sĩ, Lễ bộ tả thị lang, Trung thư lệnh, Bí thư giám học sĩ, Đô ngự sử..., hai lần đi sứ Minh, được về trí sĩ, có công khởi dựng nghề khắc in mộc bản của Hồng Lục, Liễu Chàng; khi mất được tôn phong làm ông tổ nghề in và Thành hoàng làng.

33- Phạm Như Trung: người xã Nhân Lý, huyện Thanh Lâm, châu Nam Sách, nay thuộc thị trấn Nam Sách, huyện Nam Sách; 30 tuổi đỗ đệ tam giáp; làm quan đến chức Đông các hiệu thư.

34- Nguyễn Thiện Tích: người xã Tiền Liệt, huyện Bình Hà, châu Nam Sách, nay thuộc xã Thanh Hải, huyện Thanh Hà; đỗ Đệ tam giáp; làm quan đến chức Thượng thư kiêm Đô ngự sử.

35- Nguyễn Nghị: ngừời xã Trác Châu, huyện Thanh Lâm, châu Nam Sách, nay thuộc xã An Châu, huyện Nam Sách; 31 tuổi, đỗ Đệ tam giáp, làm quan đến chức Tham chính.

36- Nguyễn Mỹ : người xã Xuân Trì, huyện Đồng Lợi, châu Hạ Hồng, nay thuộc xã Hoàng Hanh, huyện Ninh Giang; đỗ Đệ tam giáp; làm quan đến chức Tả thị lang Bộ Lễ.

37- Lê Hiển: người xã Lạc Thực, huyện Thanh Lâm, châu Nam Sách, nay là thôn Lạc Thực, xã Đồng Lạc, huyện Nam Sách; 18 tuổi, đỗ Đệ tam giáp; làm quan đến chức Trực học sĩ, phụng mệnh đi sứ nhà Minh.

38- Nguyễn Nguyên Chẩn: người xã Lạc Thực, huyện Thanh Lâm, châu Nam Sách, nay thuộc xã Đồng Lạc, huyện Nam Sách; 24 tuổi, đỗ Đệ tam; làm quan đến chức Khu mật, Trực học sĩ.

Khoa Mậu Thìn, niên hiệu Thái Hoà thứ 6 (1448),
hơn 750 người dự thi, lấy đỗ 27, Hải Dương có 5 vị trúng tuyển

39- Chu Thiêm Uy : Người xã Hương Quất, huyện Tứ Kỳ, châu Hạ Hồng, nay là thôn Phương Quất, xã Kỳ Sơn, huyện Tứ Kỳ; đỗ Đệ tam giáp; làm quan đến chức Thượng thư Bộ Lại.

40 - Phạm Đức Khản: còn có tên là Trung, người xã Hội Am, huyện Vĩnh Lại, châu Hạ Hồng, nay thuộc xã Cao Minh, huyện Vĩnh Bảo, thành phố Hải Phòng; đỗ Hoàng giáp; làm quan đến chức Tả thị lang.

41- Nguyễn Nguyên Chẩn (thi lần thứ 2): người xã Lạc Thực, huyện Thanh Lâm, châu Nam Sách, thi Hội lần thứ hai, cũng chỉ đỗ Đệ tam giáp. Là người có 2 bằng tiến sĩ.

42- Nguyễn Thiện: Người xã Hương Quất, huyện Tứ Kỳ, châu Hạ Hồng, nay là làng Phương Quất, xã Kỳ Sơn, huyện Tứ Kỳ. Anh tiến sĩ Nguyễn Thận, Nguyễn Tài; đỗ Đệ tam giáp; làm quan đến chức Thượng thư Bộ Lại, Vua Lê Thánh Tông khen là người tài năng, khí tiết, trách nhiệm.

43 - Vũ Đức Lâm: người xã Hà Xá, huyện Đường An, châu Thượng Hồng; nay thuộc xã Thái Dương, huyện Bình Giang; đỗ Đệ tam giáp; làm quan đến chức Thượng thư, được về trí sĩ.


Khoa Quý Dậu, năm Thái Hoà 11 (1453),
lấy đỗ 25, Hải Dương có 11 vị trúngtuyển.

44 - Phạm Bá Khuê : là ông nội Phạm Bá Dương, viễn tổ Phạm Hưng Nhân, Phạm Khắc Minh, Phạm Minh Tuấn đều là những người đỗ đại khoa; người xã Nhân Lý, huyện Thanh Lâm, châu Nam Sách, nay thuộc thị trấn Nam Sách, huyện Nam Sách; 35 tuổi, đỗ Hoàng giáp; làm quan đến chức quan Thị lang, từng đi sứ nhà Minh.

45 - Dương Tông Hải : người xã My Sơn, huyện Thuỷ Đường, Đông Đạo; nay thuộc xã Trung Hà, huyện Thuỷ Nguyên, thành phố Hải Phòng; đỗ Hoàng giáp; làm quan đến chức Ngự sử đài, Thiêm đô ngự sử, Thượng bảo tự khanh; phụng mệnh đi sứ nhà Minh.

46- Nguyễn Phục: người xã Đoàn Lâm, huyện Trường Tân, châu Hạ Hồng; nay thuộc xã Thanh Tùng, huyện Thanh Miện; đỗ Hoàng giáp; làm Giám thị kỳ thi Điện, khoa Quý Mùi (1463); ba lần đi sứ nhà Minh; làm quan đến chức Hàn lâm, kiêm Vương phó, Đô lý tự khanh, Tham nghị binh chính, thăng Quản ty Cẩm y vệ, mất năm Canh Dần (1470), ngự ban 4 chữ Minh Đạo Hiển ứng, được tôn vinh là ông tổ nghề tơ tằm của địa phương.

47 - Lương Phùng Thìn : người xã Tống Xá, huyện Giáp Sơn, nay là thôn Tống Long, xã Thăng Long, huyện Kinh Môn, 28 tuổi đỗ Hoàng giáp; làm quan đến chức Chuyển vận sứ.

48 - Nguyễn Thận : là em tiến sĩ Nguyễn Thiện, Nguyễn Tài; người xã Hương Quất, huyện Tứ Kỳ, châu Hạ Hồng, nay thuộc thôn Phương Quất, xã Kỳ Sơn, huyện Tứ Kỳ; đỗ Hoàng giáp,

49 - Phạm La: tằng tổ của tiến sĩ Đào Tông, người xã An Lạc, huyện Thanh Lâm, châu Nam Sách; nay là thôn Trác Châu, xã An Châu, huyện Nam Sách, đỗ Đệ tam giáp, được vua chọn làm phò mã; làm quan đến chức Chỉ huy thiêm sự.

50 - Nguyễn Lũ : người xã Tuyển Cử, huyện Đường An, châu Thượng Hồng, nay thuộc xã Tân Hồng, huyện Bình Giang. Đỗ Đệ tam giáp; làm quan tới chức Tế tửu Quốc tử giám.

51 - Nguyễn Như Ngu : người xã Lôi Động, huyện Bình Hà, châu Nam Sách; nay là thôn Song Động, xã Tân An, huyện Thanh Hà, sinh năm, 24 tuổi Đỗ Đệ tam giáp; làm quan đến chức Tự khanh .

52 - Nguyễn Vũ: người xã Phúc Đa, huyện Đông Triều, Đông đạo, nay thuộc xã Tân Việt, huyện Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh, đỗ Đệ tam giáp, có công dẹp giặc Chiêm, vẽ bản đồ xứ Thuận Hoá.

53 - Nguyễn Thế Khoa : người xã Niêm Sơn, huyện Thuỷ Đường, Đông đạo; nay thuộc xã Kỳ Sơn, huyện Thuỷ Nguyên; 19 tuổi, đỗ Đệ tam giáp; làm quan đến chức Thái phó.

54 - Nguyễn Tế : người xã Văn Thai, huyện Đa Cẩm, châu Thượng Hồng; nay thuộc thôn Văn Thai, xã Cẩm Văn, huyện Cẩm Giàng; 29 tuổi, đỗ Đệ tam giáp; từng đi sứ Minh, làm quan đến chức chức Phó Đô ngự sử, tước Cẩm Lĩnh hầu .

Khoa Mậu Dần, năm Diên Ninh thứ 5(1458),
lấy đỗ 4 người, Hải Dương có 1 vị trúng tuyển

55 - Nguyễn Văn Xứng : người xã An Trú, huỵên Thanh Lâm, lộ Nam Sách; nay thuộc xã An Thịnh, huyện Lương Tài, tỉnh Bắc Ninh; nguyên quán xã Nại Tử Châu, huyện Yên Lạc( Vĩnh Yên); 24 tuổi đỗ Tiến sĩ, chưa kịp phân thứ hạng thì có sự biến Lê Nghi Dân; làm quan đến Thừa chánh sứ.

Khoa Quý Mùi, niên hiệu Quang Thuận 4 (1463),
1.400 người dự thi, lấy đỗ 44, Hải Dương có 15 vị trúng tuyển

56 - Nguyễn Đức Trinh : người xã An Giới, huyện Thanh Lâm, lộ Nam Sách; nay thuộc xã An Sơn, huyện Nam Sách, 25 tuổi, đỗ Bảng nhãn; đi sứ nhà Minh, khi về được thăng Phó Đô ngự sử; sau khi mất truy tặng chức Thượng thư.

57 - Phạm Lỗ : là anh Phạm Xán; người xã Lôi Dương, huyện Đường An, châu Thượng Hồng, nay thuộc xã Thái Học, huyện Bình Giang; đỗ Hoàng giáp; làm quan đến chức Hữu thị lang Bộ Hình.

58 - Nguyễn Tài : là anh Nguyễn Thận, em Nguyễn Thiện; người xã Hương Quất, huyện Tứ Kỳ, châu Hạ Hồng, nay là thôn Phương Quất, xã Kỳ Sơn, huyện Tứ Kỳ; đỗ Hoàng Giáp; làm quan đến chức Hiến Sát sứ.

59 - Đào Bạt: người xã Tiền Liệt, huyện Bình Hà, lộ Nam Sách ; nay thuộc xã Thanh Hải, huyện Thanh Hà; đỗ Hoàng Giáp,; làm quan đến chức Thượng thư.
60 - Đỗ Hân : người xã Cao Mặc, huyện Thanh Miện, châu Hạ Hồng, nay thuộc thôn Cao Mặc, xã Cao Thắng, huyện Thanh Miện; đỗ Hoàng Giáp; làm quan đến chức Tả thị lang.

61 - Nguyễn Ký : người xã Linh Giàng, huyện Chí Linh, nay là xã Cổ Thành, huyện Chí Linh; 30 tuổi Đỗ Hoàng giáp; làm quan đến chức Thượng thư Bộ Lại.

62 - Vũ Nhữ Nhuế: người xã Thượng Đặng, huyện Thanh Lâm, nay thuộc xã NamTrung, huyện Nam Sách, sinh năm ất Mão(1435); 29 tuổi, đỗ Hoàng giáp; làm quan tới chức Hàn lâm khởi cư chú (?) .

63 - Vũ Hữu : hiệu Ước Trai, người xã Mộ Trạch, huyện Đường An, châu Thượng Hồng ; nay thuộc xã Tân Hồng, huyện Bình Giang, 20 tuổi đỗ Hoàng giáp; làm quan triều Lê đến chức Thượng thư Bộ Lại, tước Dương Tùng hầu; sau làm quan với triều Mạc, được phong Thái Bảo, thọ 87 tuổi; là tác gia nổi tiếng, có biệt tài về toán học, dân gian gọi là Trạng Toán.

64 - Lưu Công Ngạn: người xã Khúc Lễ, huyện Thuỷ Đường; nay là thôn Do Lễ, xã Tam Hưng, huyện Thuỷ Nguyên, thành phố Hải Phòng; đỗ Hoàng giáp.

65 - Chu Lộc : người xã Phù Vân, huyện Đường An, châu Thượng Hồng, nay thuộc Lôi Khê, xã Hồng Khê, huyện Bình Giang. Đỗ Đệ tam giáp; làm quan đến chức Hiến sát sứ.

66 - Đào Văn Hiển: người xã An Bồ, huyện Tứ Kỳ, lộ Nam Sách; nay thuộc xã Dũng Tiến, huyện Vĩnh Bảo, thành phố Hải Phòng; đỗ Đệ tam giáp; từng đi sứ nhà Minh; làm quan đến chức Thượng thư Bộ Hình.

67- Lê Nghĩa : người xã Đại Điền, huyện Bình Hà, lộ Nam Sách; nay thuộc xã Hồng Lạc, huyện Thanh Hà; đỗ Đệ tam giáp; làm quan đến chức Hàn lâm viện thừa chỉ, kiêm Sử quan. Ông là sử gia nổi tiếng về chí khí và nhân cách.

68 - Dương Đức Nhan: người xã Hà Dương, huyện Đồng Lại, châu Hạ Hồng, nay thuộc xã Cộng Hiền, huyện Vĩnh Bảo, thành phố Hải Phòng; đỗ Đệ tam giáp, làm quan đến chức Hữu thị lang, Bộ Hình, tước Dương Xuyên hầu, từng đi sứ nhà Minh. Ông là tác gia khoa học, thơ, văn nổi tiếng.

69 - Nhữ Văn Lan: ông ngoại Nguyễn Bỉnh Khiêm, khởi tổ họ Nhữ Hoạch Trạch; người xã An Tử, huyện Tân Minh, lộ Nam Sách; nay là thôn An Tử Hạ xã Kiến Thiết huyện Tiên Lãng, thành phố Hải Phòng; đỗ Đệ tam giáp; làm quan đến chức Thượng thư Bộ Hộ; sau khi mất được phong Phúc thần.

70 - Nguyễn Cư Trung: người xã Hiển Dương, huyện Cẩm Giàng, nay thuộc xã Dương Quang, huyện Mỹ Hào, tỉnh Hưng Yên, đỗ Đệ tam giáp.

71 - Nguyễn Như Trác : người xã Viên Đổ, huyện Phí Gia, lộ Nam Sách; nay thuộc xã Kim Tân, huyện Kim Thành. Đỗ Đệ tam giáp, làm quan đến chức Tri huyện.

Khoa Bính Tuất, năm Quang Thuận 7 (1466),
hơn 1.000 người dự thi, lấy đỗ 27, Hải Dương có 6 vị trúng tuyển

72 -Đoàn Lạn : người xã Hồng Lục, huyện Trường Tân, châu Hạ Hồng; nay thuộc xã Tân Hưng, huyện Gia Lộc; đỗ Hoàng giáp; làm quan đến chức Thừa tuyên sứ, phụng mệnh đi sứ nhà Minh.

73- Nguyễn Chấn : người xã An Trạch, huyện Trường Tân, châu Hạ Hồng; nay thuộc xã Thống Kênh, huyện Gia Lộc, lộ Hồng; đỗ Hoàng giáp; làm quan đến chức Đô cấp sự trung.

74 - Bùi Khản: người xã An Khoái, huyện Thanh Miện, châu Hạ Hồng; nay thuộc xã Tứ Cường, huyện Thanh Miện; đỗ Đệ tam giáp; làm quan đến chức Đô cấp sự trung.

75 - Nguyễn Doãn Truân: người xã Lực Hành, huyện An Dương, nay thuộc xã Đằng Lâm, huyện An Hải, thành phố Hải Phòng; trú quán xã Hà Nội, huyện Kim Thành; 28 tuổi đỗ Đệ tam giáp, làm quan đến Hữu thị lang.

76 - Mạc Đức Tuấn : là tằng tổ Tiến sĩ Mạc Văn Uyên, người xã Mặc Thủ, huyện Bình Hà, thừa tuyên Nam Sách, nay thuộc xã Liên Mặc, huyện Thanh Hà; đỗ đệ tam giáp; làm quan đến chức Thượng thư.
Biệt lục
77 - Đỗ Nhuận: người xã Mật Sơn, huyện Chí Linh, thừa tuyên Nam Sách, nay thuộc xã Chí Minh, huyện Chí Linh; đỗ Đệ Tam giáp, làm quan đến chức Thượng thư, Đông các đại học sĩ, Phó Nguyên suý Hội Tao đàn( có tài liệu ghi quê xã Kim Hoa, huyện Kim Hoa(Mê Linh- Vĩnh Phúc ?).

Khoa Kỷ Sửu, năm Quang Thuận thứ 10 (1469),
lấy đỗ 22 người, Hải Dương có 7 vị trúng tuyển

78 - Phạm Bá: người xã Phác Xuyên huyện Tân Minh, phủ Nam Sách, nay thuộc xã Bạch Đằng huyện Tiên Lãng, thành phố Hải Phòng; đỗ Đình nguyên, nhưng chỉ ở Đệ nhị giáp (Hoàng giáp); làm quan đến chức Thượng thư Bộ Lại, kiêm Tế tửu Quốc tử giám, Nhập thị kinh diên, tước Xuyên quận công, được về trí sĩ.

79 -Nguyễn Minh : người xã Liêu Xá, huyện Đường Hào, phủ Thượng Hồng; nay là thôn Liêu Thượng, xã Liêu Xá, huyện Yên Mỹ; 21 tuổi đỗ Đệ tam giáp; làm quan đến chức Tả thị lang.

80 - Lê Sĩ Dũng: người xã Phụ Vệ, huyện Chí Linh, phủ Nam Sách; nay thuộc xã ái Quốc, huyện Nam Sách; đỗ đệ tam giáp; làm quan đến chức Tổng binh thiêm sự.

81 - Nguyễn Nhân Khiêm : người xã Lê Xá huyện Nghi Dương, phủ Kinh Môn; nay thuộc xã Tú Sơn, huyện Kiến Thuỵ, thành phố Hải Phòng; 29 tuổi đỗ Đệ tam giáp; làm quan đến chức Đô cấp sự trung Bộ Công.

82 - Vũ Như Tùng : người xã Bối Trì, huyện Thanh Miện, phủ Hạ Hồng; nay là làng Lai Trì, xã Ngũ Hùng, huyện Thanh Miện; 20 tuổi đỗ Đệ tam giáp; làm quan đến chức Hiến sát sứ.

83 - Vũ Thạc : người xã Vũ La, huyện Thanh Lâm, phủ Nam Sách; nay thuộc xã Nam Đồng, huyện Nam Sách; 21 tuổi, đỗ Đệ tam giáp; làm quan đến chức Hiến sát sứ.

84 - Nguyễn Chiên : người xã An Đinh huyện Cẩm Giàng, phủ Thượng Hồng, nay thuộc xã Cao An, huyện Cẩm Giàng; đỗ Đệ tam giáp.

Khoa Nhâm Thìn, năm Hồng Đức thứ 3 (1472),
lấy đỗ 27 người, Hải Dương có 4 vị trúng tuyển

85 - Nguyễn Kim An: còn có tên là Toàn án, người xã Thời Cử, huyện Đường An, phủ Thượng Hồng; nay thuộc thôn Tuyển Cử, xã Tân Hồng, huyện Bình Giang; 22 tuổi đỗ Bảng nhãn; làm quan đến chức Hàn lâm viện thị thư.

86 - Vũ ứng Khang: người xã Mộ Trạch, huyện Đường An, phủ Thượng Hồng; nay thuộc, xã Tân Hồng, huyện Bình Giang; đỗ Hoàng Giáp; làm quan đến chức Hộ khoa cấp sự trung.

87 - Nguyễn Thái : người xã Xạ Sơn, huyện Giáp Sơn, phủ Kinh Môn; nay thuộc xã Quang Trung, huyện Kinh Môn; 33 tuổi đỗ Đệ tam giáp; làm quan đến chức Thượng thư Bộ Lễ, Chưởng Hàn lâm viện sự.

88 - Vũ Hựu : người xã Dũng Quyết (?), huyện Thanh Miện, phủ Hạ Hồng, nay thuộc huyện Thanh Miện, (hiện chưa rõ tên làng xã hiện đại); đỗ Đệ tam giáp.
                                                                  --------------------------------------------------

Thư viện ảnh

Thăm dò ý kiến

Thống kê truy cập

Số lượt truy cập:
874795
Số người đang online:
205

View Larger Map