Lễ hội đình Nhân Lý xưa và nay
(20/08/2012 12:00:00 SA)

Đã từ lâu, nhất là từ năm đầu thế kỷ XXI đến nay, hàng năm cứ đến ngày 10/02 âm lịch, Làng Nhân Lý (thị trấn Nam Sách) lại mở cửa đình, dâng lễ vật cúng tế thành hoàng và diễn trình những trò chơi dân gian nhằm giải toả tâm linh giáo dục quần chúng, nhất là giúp cho thế hệ trẻ nhớ về cội nguồn lịch sử dân tộc và tổ tiên nòi giống, củng cố khối đoàn kết cộng đồng làng xã, tăng thêm lòng yêu quê hương đất nước, làm theo đạo lý "uống nước nhớ nguồn" vốn có từ lâu đời đã in đậm trong tâm thức người Việt Nam.

Ngày xưa việc mở cửa đình cúng tế, Nhân Lý gọi là "Làng vào đám". Ngày nay gọi là "Lễ hội Đình Nhân Lý". Đình Nhân Lý được xây dựng trên khu đất rộng 4000m2 từ thế kỷ thứ XIII, tại đầu làng Nhân Lý nên tên đình gọi theo địa danh tên làng. Làng Nhân Lý xưa kia do Trang Đào và Trang Si hợp lại vì thế Đình Nhân Lý còn có tên nôm là đình Si, làng Nhân Lý xưa thuộc huyện Thanh Lâm, phủ Nam Sách lộ Đông Hải. Đến đời Nguyễn, Nhân Lý thuộc tổng An Lương huyện Nam Sách tỉnh Hải Dương. Từ 1945, Nhân Lý thuộc xã Thanh Lâm. Từ Năm 1989 xã Thanh Lâm đổi thành thị trấn Nam Sách.

Cho đến  nay người Nhân Lý rất tự hào về ngôi đình - một thiết chế văn hoá có bề dày lịch sử gần 700 năm. Riêng toà đại bái cũng gần 300 năm tuổi. Đình kiến trúc theo qui cách Lý - Trần - Lê. Đình trải qua nhiều lần trùng tu vào thời Nguyễn. Theo lý lịch đình lưu tại Bảo tàng tỉnh Hải Dương thì "Đình Nhân lý kiến trúc thời Lê điển hình và khá đồng bộ của tỉnh Hải Dương. Các bức cốn, con chồng, con thuận, má bảy, xà chéo đều được chạm khắc trang trí các đề tài khác nhau. Có nhiều bức cốn đạt tới đỉnh cao về nghệ thuật điêu khắc gỗ ở thế kỷ XVII - XVIII của Việt Nam mà các nghệ nhân ở những thế kỷ sau không dễ vượt qua. Các đồ thờ được bài trí hợp lý, tạo nên một không gian rộng rãi, thuận lợi cho việc tế lễ, sinh hoạt tín ngưỡng "...

Đình Nhân Lý được xếp hạng Quốc gia (cùng đợt với di tích Côn Sơn- Kiếp Bạc và Động Kính Chủ) theo Nghị định số 519 do Thủ tướng Chính phủ Phạm Văn Đồng ký ngày 25/10/1967; được Bộ Văn hoá- Thông tin cấp bằng Di tích lịch sử văn hoá cấp Quốc gia ngày 10/7/1980. Đường đến đình Nhân Lý rất thuận tiện, khách tham quan có thể đến Đình theo 2 đường:

+ Từ thành phố Hải Dương theo quốc lộ 5 hướng Hải Phòng, đến ga Tiền Trung (cách 7km) rẽ trái, đi theo đường 183 (khoảng 4km) đến gần Đền liệt sĩ Nam Sách có biển đề “Đình Nhân Lý” bên trái thì rẽ vào di tích. Tuyến đường 12km thuận lợi với mọi phương tiện giao thông đường bộ.

+ Từ thành phố Hải Dương theo đường 17 qua đò Hàn về thị trấn Nam Sách đến thôn Nhân Lý, Đình nằm cách đường 17 chừng 200m về phía đông, đi theo đường này đến di tích chừng 6km, đi bằng xe đạp là thuận tiện nhất.

Đình Nhân Lý không những là di sản văn hoá đặc sắc mà còn gắn liền với nhiều sự tích truyền thuyết lịch sử. Đình là nơi thờ đương cảnh Thành Hoàng Đại Vương Đào Tuấn Lương, người có công âm phù đánh giặc Lương thế kỷ VI, trong cuộc khởi nghĩa của Lý Bôn (Lý Nam Đế) dựng nước Vạn Xuân độc lập. Theo truyền thuyết, Đức Thành hoàng còn báo mộng cho vua Trần và Đức Trần Hưng Đạo, hiến kế đánh giặc Nguyên khi quân Trần đồn trú tại khu rừng Thanh Lâm trong khu vực An Lương, Cẩm Lý, Lang Khê, Nhân Lý, Đồng Khê. Qua lời báo mộng của Đức Thành hoàng, quân nhà Trần đã chiến thắng quân Nguyên trong trận ấy. Sau thời gian đó, vua Trần sắc phong cho Đức Thành hoàng Đào Tuấn Lương tước Sùng Văn mẫu công, đương cảnh Thành hoàng, giao cho 4 làng thờ phụng tại đình Nhân Lý.

Cho đến nay tuy các sắc phong đều bị thất lạc không còn, nhưng khách thập phương đến đình Nhân Lý ngoài sự ca ngợi về tài năng của những người thợ mộc ngày xưa, còn tìm thấy ở đình Nhân Lý sự tôn nghiêm, lòng ngưỡng mộ của nhân dân với người có công với dân với nước được nhân tôn thờ qua các chữ đề trên bức hoành phi "Thánh Cung Vạn Tuế" (dịch cung thờ Đức Thánh muôn năm); Qua các câu đối ở trong cung như "Uy trấn Đông Dương Vạn Cổ Linh, khí Trung Nam Nhạc Tam quang túc" (tạm dịch ý: uy đức mãi linh thiêng khắp biển Đông - khí tiết Trung hiếu, sóng ngời vùng núi Nam Nhạc). Hoành phi trên cửa võng với 4 chữ  "Thượng đẳng tối linh" (Đức thượng đẳng linh thiêng). Câu đối "Lễ hữu công tắc tự chi - Thần vi đắc kỳ thịnh hữu" (Tạm dịch: có công lễ bái tự mình sẽ được hưởng lộc - vì thánh mà phục vụ ắt được thịnh vượng)...

Cùng với những câu đối, đại tự, hoành phi nói ý nghĩa thờ cúng và uy đức linh ứng của Thành hoàng là những đồ thờ (gỗ, đá, gốm ,sứ, kim loại) được lưu giữ từ xưa; bát hương, cây đèn, mâm đồng, đỉnh đồng, chuông, ngựa bạch, hạc thờ, kiệu, ngai, long đình, bát bửu, giá gương, hòm sắc, giá văn... đều được sơn son thiếp vàng và chạm trổ rất tinh vi. Ngoài ra từ năm 1989 nhân dân cung tiến nhiều đồ thờ như; tàn, lọng, y môn, áo bào, mũ thần, hia, cờ thần, lọ lộc bình, bát hương. Đồ thờ được trình bày trên các ban thờ tạo cho nội cung vẻ trang nghiêm thần bí, cảnh trí đình thật tố hảo. Theo ông Nguyễn Thế Nhung, trưởng ban trị sự Đình và các cụ cao tuổi Làng Nhân Lý thì Lễ hội đình Nhân Lý ngày xưa (trước cách mạng 8/1945) gọi là "Vào đám". Hội vào đám bắt đầu từ 10 đến 14/2 (âm lịch) dòng giã 5 ngày. Ngày trọng lễ là 11/2, ngày sinh nhật Đức Thành hoàng Đào Tuấn Lương, người có công phù Lý Bôn đánh giặc Lương thế kỷ VI và âm phù báo mộng giúp nhà Trần đánh tan quân Nguyên thế kỷ XIII.

Ngoài ra trong năm (âm lịch) còn 2 ngày lễ lệ: Ngày 18/8 Lễ sắc phong, ngày 15/10 ngày Thánh hoá. Theo lệnh vua Trần ban, việc thờ cúng "Tứ trang đồng phụng sự" gồm 4 làng Nhân Lý, Rào, Bạch Đa, Đồng Khê thuộc tổng An Lương, huyện Thanh Lâm, phủ Nam Sách, lộ Đông Hải, trong đó Nhân Lý giữ vai trò chính. Song việc "Tế đám" hàng năm ở đình Nhân Lý vẫn là việc của hàng tổng. Do đó, việc "Vào đám" hàng năm chánh tổng An Lương phải đứng ra cắt đặt công việc, phân công cụ thể cho Lý trưởng 4 làng. Làng Nhân Lý có đình phải "Tế đám". Làng Nhân Lý chia thành 2 giáp; Giáp Đông và Giáp Tây. Hàng năm mỗi giáp chiếu theo sổ đinh lần lượt cắt cử 1 ông "Tế đám". Mỗi ông "Tế đám" được cấy 5 mẫu ruộng của đình, nuôi lợn, nuôi trâu, làm rượu nếp (Hoàng tửu) để vào đám dâng Thành hoàng và mời (xuất đinh) hàng giáp ăn uống.

“Vào đám” đình Nhân Lý ngày xưa rất coi trọng phần Lễ - Đàn bà không được vào đình. Đội tế nam có 13 người các quan viên tế được kén chọn từ các con quan, người có chức dịch vai vế có chữ nghĩa học thức. Trước ngày tế phải luyện tập, phải kiêng khem chay tịnh. Trang phục tế, chủ tể (Chánh tổng mệnh bái); áo xanh, lót vàng, đội mũ cánh chuồn.

- Các xướng quan (Đông xướng, Tây xướng...) mặc áo vàng, đội khăn xếp.

- Hầu tế; mặc áo xanh, đội mũ bình thiên.

Lễ thức tế khá đầy đủ theo phong cách cổ truyền.

+ Quán tẩy (rửa tay nước thơm).

+ Dâng xôi, thịt lợn, hương hoa, vàng mã, dâng rượu nếp.

+ Hoá chúc và lễ tạ.

Đội bát âm cử nhạc lễ; tiếng trống, chiêng, nhị, đàn, sáo... hoà quyện vào nhau theo điệu lưu thuỷ, lý hành vân nghe như mây bay nước chảy mà linh thiêng và huyền bí.

Lễ vật dâng Thành hoàng đình Nhân Lý xưa do 2 ông tế đám lo sắm (bằng hoa lợi cấy ruộng đình) dân không phải đóng góp. Lễ vật dâng Thành hoàng gồm;

+ Thịt lợn sống cả con.

+ Trâu thui cả con.

+ Thủ lợn để mâm đồng.

+ Mâm xôi đỗ, xôi gấc.

+ Rượu nếp (Hoàng tửu).

Cùng với lễ vật do 2 ông tế đám dâng, nhân dân tứ trang và các dòng họ làng Nhân Lý tuỳ theo hoàn cảnh tự nguyện dâng lễ vật nhất là làm rượu nếp dâng Thành hoàng cầu được mùa màng tốt tươi, gia đình hoà thuận, hạnh phúc theo tục lệ của ông bà để lại.

Trong những ngày "Vào đám" ở đình Nhân Lý xưa ngoài việc tế lễ trang nghiêm thành kính, phải kể tới nghi lễ rước - một nội dung không thể thiếu của lễ hội dân gian truyền thống ở đình Nhân Lý xưa kia. "Vào đám" đình Nhân Lý thường tổ chức Rước rất linh đình. Đám rước sắc phong từ đình vòng quanh làng Nhân Lý đến đống Táo - Mả Vàng, hạ kiệu rồi hướng sang nghè làng Rào (xã An Lâm - nơi có mộ tướng công) tế vọng (vì đường rước vướng sông không qua được sang Nghè Rào) để lại một đêm, sang hôm sau rước về đình. Thành phần đám rước chỉ có nam giới, chọn con quan, con nhà giàu có quần áo, mũ, khăn chỉnh tề đi vào hàng lối qui định. Họ bé phải cầm cờ, khiêng vác, phục dịch... Thứ tự đám rước; đội múa lân đi đầu, vừa để dẹp đường vừa tạo không khí rộn rã tưng bừng cổ vũ lễ hội. Tiếp đến cờ thần, trống cái, kiệu phong thần, tàn, lọng che, rồi đến long đình, ngựa gỗ, bát bửu, phường bát âm, lễ vật đội tế, các quan viên và nhân dân.

Với qui mô liên vùng tổng huyện nên nhân dân các nơi kéo về xem làng Nhân Lý vào đám "Rước" rất đông, làm sống động cả vùng phủ Nam có chợ huyện Thanh Lâm nổi tiếng.

Rõ ràng lễ hội đình Nhân Lý xưa (Trước 8/1945) việc tế, lễ, rước được tiến hành rất trang nghiêm quy củ, bài bản nên đã thấm sâu vào tâm đức người Nhân Lý về "Vào đám" xưa cho đến lễ hội thời nay.

Các cụ trên 80 tuổi còn nhớ rõ chương trình 5 ngày làng "Vào đám" tại không gian đình làng diễn ra phần lễ thứ như sau:

- Ngày 10/2 âm lịch vào đám; Lý trưởng trình bày với làng về chương trình, kế hoạch tổ chức lễ hội.

+ Các quan viên tế nhập tịch; Khi mở cửa đình "Vào đám" phải có hoa lễ, mâm xôi gà, hoa quả, ông mệnh bái cùng các quan viên đội tế, tế Thành hoàng xin phép mở hội (Vào đám) thời gian từ ngày 10 đến ngày 14 tháng 2 hàng năm      

+ Ông tế đám dâng rượu nếp (Hoàng tửu). Rượu phải chọn gạo nếp cái hoa vàng chế biến, ủ men, vắt tinh khiết (không nấu qua lửa). Sau lễ dâng Thành hoàng xong, ông tế đám phải gánh rượu đi chia cho các gia đình có xuất đinh trong giáp.

- Ngày 11/2, ngày lễ trọng (ngày sinh Thành hoàng).

+ Tổ chức rước sắc phong và tế vọng (đã ghi ở phần trên - TG).

+ Ông tế đám đem trâu (đực) ra cửa đình mổ thịt thui để cả con tế sống - Lệ làng gọi là Lễ chầu trâu, sau đó thịt trâu chia cho các xuất đinh trong giáp.

- Ngày 12/2 làm lễ "Chầu cỗ hát", dân làng và các dòng họ thi nhau làm cỗ dâng Thánh, có các quan viên chấm điểm. Các mâm cỗ; gà quay, gà luộc, giò chả, xôi chè... đủ thứ. Có nhà dâng cả con lợn quay ra đình. Lễ  "Chầu cỗ hát" (thi cỗ) được diễn ra suốt 2 ngày (12 và 13/2). Các mâm cỗ dâng Thành hoàng và chấm xong, cỗ nhà nào mang về nhà nấy thụ hưởng.

- Ngày 14/2 rã đám (kết thúc Lễ hội) ông mệnh bái xưa là chánh tổng (nay là chủ tịch thị trấn) tổ chức tế xin phép Thành hoàng đóng cửa đình gọi là tế rã. Trong suốt 5 ngày đêm đèn nến trong đình sáng trưng, khói hương lan toả nghi ngút.

Song song với phần Lễ, phần Hội liên tục (đan xen) diễn ra các trò chơi dân gian cuốn hút đông đảo các tầng lớp nhân dân tham gia hưởng ứng và xem hội.

Một trong trò chơi dân gian tao nhã, lịch lãm, trí tuệ, tính cộng đồng cao bởi được người xem bình phẩm nước cao thấp của ván bài rất vui. Đó là tổ tôm điếm (theo cổng giao tiếp điện tử Bắc Ninh 05/03/2009). Cách chơi Tổ tôm điếm không khác bao nhiêu so với tổ tôm thông thường. Mỗi điếm chơi gồm 1-3 người trong đó có một người làm đại diện. Thời gian chơi mỗi canh tuỳ theo ban trọng tài nhưng thường từ 60 - 90 phút. Kết thúc canh chơi, điếm nào cao điểm nhất sẽ thắng.Người chơi khi đi hay ăn sẽ không tự tay rút quân bài mà do thành viên của ban trọng tài rút. Mỗi lần rút thì người rút sẽ xướng câu thơ ghi đằng sau quân bài, thông thường là các câu thơ được trích trong truyện kiều (Nguyễn Du). Đây là điểm rất đặc sắc mang lại nét tao nhã, lịch lãm cho Tổ tôm điếm. Tuỳ theo khả năng của người soạn mà những câu thơ có sức hấp dẫn khác nhau.

Ngoài ra, khi tham dự chơi Tổ tôm điếm người chơi phải tuân theo một số thể lệ sau: Soạn bài xếp phu xong thì đánh ba tiếng trống, bài chịu đánh một tiếng trống cắm cờ xanh, bài bắt thực đánh một tiếng trống cắm cờ vàng, bài bắt thiên khai đánh một tiếng trống cắm cờ tím. Đó là màn soạn bài (có thể coi như phần khởi động). Bước sang phần 2, ban trọng tài sẽ căn cứ vào hiệu lệnh trống của người chơi để điều hành. Trống ăn đánh một tiếng, trống không ăn đánh một tiếng cắc. Nếu người chơi trỗi khàn đánh 3 tiếng trống, gọi phỗng thì 2 tiếng.

Đối với trống gọi ù được chia làm mấy loại như sau; bài ù suông người chơi gõ một hồi cho rõ và nhịp nhàng, bài ù có cước như tôm, lèo, kính cụ hoặc thập điều gõ 2 hồi, ù bạch định người chơi gõ 2 hồi cho dứt rồi thay 2 tiếng cắc cắc bằng tùng tùng. Tất cả các bài ù người chơi đều cắm cờ đỏ, ù chèo đò cắm cờ trắng, còn ù trả đò thị hạ cờ. Trò chơi cờ Lễ hội năm nào cũng đấu, có năm tổ chức "cờ người", chọn nam thanh, nữ tú đóng tướng ông, tướng bà, tráng đinh đóng tốt đỏ, tốt đen dàn trận đấu trí rất hấp dẫn. Thường duy trì đấu "cờ bỏ" là chính (mỗi quân là một biển cắm cao tầm mắt người chơi, còn gọi là cờ biển) có ván kéo dài phân thắng bại. Ngay trong sân đình người đứng vòng quanh xem chọi gà. Các chức sắc quần ống sớ, áo lương, khăn xếp nghe hát ả đào (ca trù). Nam nữ hát đối, hát đúm quanh đình tỏ bày, ướm hỏi hẹn hò tình yêu lứa đôi, đối đáp về hiện tượng thiên nhiên, động vật, cây cỏ, hoa lá bằng những lời ca dân dã. Tối đến tiếng trống chèo, sân đình vang lên. Diễn ngay trên sân (không bắc sân khấu) người xem đứng vòng quanh. Trò nào hay (theo nhịp trống khen của Lý trưởng) có người lại thưởng tiền.

Đó là các trò chơi dân gian chủ yếu diễn ra trong suốt 5 ngày "Vào đám" tại đình Nhân lý xưa kia (trước 8/1945) mà chỉ các cụ trên 80 tuổi mới nhớ ra kể lại. Điều này nói lên thực trạng văn hoá lễ hội truyền thống trong giai đoạn (1945 - 1975) diễn ra rất phức tạp có chiều hướng lắng chìm. Do hoàn cảnh đất nước bị chiến tranh tàn phá, nên chưa có sự quan tâm đúng mức của mọi người dẫn đến hoạt động lễ hội dân gian truyền thống hầu như bị lãng quên. Đến năm 1984 pháp lệnh "Bảo vệ và sử dụng di tích lịch sử văn hoá" của Nhà nước ban hành là cơ sở pháp lý đầu tiên tạo điều kiện cho lễ hội làng xã khắp vùng châu thổ Bắc Bộ bung ra. Người Nhân Lý với nhận thức mới rằng lễ hội đình làng như một "pho sử" sống động, lễ hội truyền thống đã hàm chứa mang trong mình nhiều nhân tố tiêu biểu thuộc về tinh hoa, giàu bản sắc dân tộc. Và lễ hội đình Nhân Lý những năm gần đây, nhất là năm 2009 đã và đang được phục dựng để nội dung và hình thức (Lễ và Hội) đan xen hoà quyện với nhau trong một chỉnh thể thống nhất của mô hình lễ hội truyền thống. Có thể nói với sự nhận thức đúng đắn và quan tâm sâu sát, sự quản lý chặt chẽ của Đảng bộ và chính quyền thị trấn Nam Sách, lễ hội đình Nhân Lý mấy năm gần đây đều được tổ chức đúng bài bản, đạt hiệu quả cao.

Mặc dù năm 2009, đình đang tu bổ sửa chữa (tổng kinh phí Nhà nước đầu tư trên 12 tỷ đồng) nhưng tại không gian đình Nhân Lý, lễ hội vẫn được chủ động chuẩn bị chu đáo. Thành lập ban tổ chức gồm 16 vị (năm 2007 ban tổ chức là 43 vị) do chủ tịch UBND thị trấn Nam Sách làm trưởng ban. Ban tổ chức chia làm 9 tiểu ban (mỗi tiểu ban có từ 3 đến 8 người). Đó là tiểu ban tổ chức, tài vụ, tiếp tân, điều hành tế lễ, đón lễ, mua hoa lễ, an ninh, văn nghệ và tiểu ban trò chơi. Ban tổ chức đổi mới hình thức mời, từ in hàng ngàn giấy mời, gửi tới từng gia đình, nay sử dụng hệ thống đài phát thanh thị trấn vừa tuyên truyền mục đích ý nghĩa lễ hội, vừa mời công khai rộng rãi đỡ tốn kém. Đặc biệt là việc tổ chức viếng nghĩa trang mời các anh hùng liệt sĩ về dự lễ hội với dân làng rất phù hợp với đạo lý "uống nước nhớ nguồn" của quê hương "Lý nhân vi mỹ".

Lễ hội đình Nhân lý (Nam Sách) năm nay được diễn ra trong 3 ngày đúng hội lễ từ 10 đến 12/2 âm lịch với qui mô liên xã và huyện. Trong lễ hội đan xen phần lễ và phần hội khá hài hoà. Nhiều trò chơi mới như bóng đá, cầu lông đưa vào hội mở rộng không gian đã tạo cho lễ hội đình Nhân Lý thêm tưng bừng hơn. Lễ hội được diễn ra với chương trình khép kín từng ngày rất cụ thể và thiết thực.

- Ngày 10/2 Kỷ Sửu (6/3/2009):

+ Buổi sáng khai mạc lễ hội, ban tổ chức (chủ tịch UBND thị trấn) đọc sự tích ngôi đình gắn với tiểu sử Thành Hoàng. 9h Tế nhập tịch (xin phép Thành Hoàng mở lễ hội) nội dung tuần tiết và trang phục như xưa, chỉ có khác thành phần Tế. Đội Tế của thị trấn Nam Sách đều là người dân bình thường biết tế mà không phân biệt đẳng cấp, giới tính như xưa. Hai đội tế nam và nữ của thị trấn Nam Sách, không những đảm nhiệm tất cả các việc tế của lễ hội đình Nhân Lý mà còn đến tế giao hữu nhiều lễ hội khác như; Văn miếu Mao Điền, Côn Sơn, Kiếp Bạc... Sau Tế nhập tịch trống thúc đô vật và chọi gà giục giã liên hồi, người xem đông đúc.

+ Buổi chiều: Tế đón Lễ các gia đình, dòng họ, cơ quan khách thập phương vào đình dâng lễ khấn vái. 15h khai mạc giải bóng đá lễ hội đình Nhân Lý và tiếp đấu vật, chọi gà. Tối xem đội văn nghệ quê hương hát chèo tại sân đình.

Sang ngày 11/2 Kỷ Sửu (7/3/2009). Ngày trọng hội năm nay không tổ chức rước kiệu sắc phong và tế vọng vì đình đang tu bổ. Song Tế đón lễ và các trò chơi dân gian như: cờ tướng, đi cầu thùm, bắt vịt diễn ra suốt cả ngày cho đến khuya đội văn nghệ hạ màn hát chèo.

Ngày 12/2 Kỷ Sửu (8/3/2009) ngày cuối cùng của lễ hội. Cả buổi sáng Tiểu ban đón lễ vẫn tiếp tục đón lễ của các gia đình, cơ quan, dòng họ, khách thập phương dâng cúng Thành Hoàng, đồng thời các trò chơi dân gian vẫn sôi nổi đến quá trưa. 14h tế rã. Tế xin phép Thành Hoàng kết thúc lễ hội đóng cửa đình (xưa kia ông mệnh bái là chánh tổng nay là chủ tịch thị trấn chủ trì). Việc cuối cùng của lễ hội đình Nhân Lý xưa kia và nay đều thành tâm làm lễ cúng "Lục đạo" với ý nghĩa là khi làng mở hội (vào đám xưa kia) có mời Lục đạo (6 thần) gồm: thần đất, thần sông, thần cây, thần chết đói, thần ốm chết, thần chết không có người lo về dự. Nên khi kết thúc lễ hội cúng hoá vàng, đốt mã, quần áo, mũ vàng, gạo, muối rắc khắp mọi nơi, để mọi thần đều được hưởng.

Qua tìm hiểu lễ hội đình Nhân Lý xưa và nay cho thấy sự thăng trầm của lịch sử đã tác động vào sự mất còn các tục lệ, lễ nghi là tất yếu. Đó là:

* Về phần lễ

- Nghi lễ còn giữ được; rước kiệu, tế (đặc biệt có đội tế nữ đã xoá điều cấm kỵ xưa kia).

- Bỏ thủ tục làm Tế đám.

- Bỏ thủ tục dâng lễ vật: Thịt lợn sông cả con, trâu thui cả con. Không còn tục làm rượu nếp (Hoàng Tửu). Bỏ lễ Chầu cỗ hát (thi cỗ). Nay mọi gia đình, dòng họ, khách thập phương đều bình đẳng tự do đến lễ hội.

- Không có hình thức Thờ, nghi lễ mang tính ngoại lai du nhập.

- Nghi lễ điển hình là Rước và Tế (3 ngày 5 lần Tế nam và nữ).

*Về phần hội:

- Vẫn phát huy được một số trò chơi dân gian: Cờ tướng, chọi gà, múa lân, hát chèo và thêm: Cầu thùm, cầu lông, bóng đá... mở rộng thêm không gian lễ hội.

- Không còn Tổ tôm điếm, hát ca trù, hát đúm.

- Việc phân công thực hiện lễ hội cụ thể, rõ ràng dân chủ (Ban tổ chức có 16 người và 9 tiểu ban) do Chủ tịch UBND thị trấn làm Trưởng ban.

- Xoá bỏ tính gia trưởng phân biệt giàu nghèo đẳng cấp xã hội ngày xưa và thay bằng sự tiến bộ Lễ hội nay.

Năm 2009 di tích đang tu bổ; Lễ hội bắc rạp ngoài trời. Tế lễ rất trang nghiêm, phần hội rất tưng bừng, đáp ứng giải toả tâm linh và nhu cầu hưởng thụ văn hoá Lễ hội của nhân dân.

Điều đó chứng tỏ địa phương đã quan tâm khai thác phục dựng nghi Lễ truyền thống, bỏ những nghi lễ hủ tục rườm rà tốn kém và mở rộng quy mô Lễ Hội.

Lễ hội đã khơi dậy lòng tự hào dân tộc, yêu quê hương đất nước, gắn bó cộng đồng, ơn nhớ tổ tiên giải toả tâm linh, phấn chấn tinh thần.

Lễ hội cố gắng tổ chức ngang tầm với di tích Quốc gia hơn nữa. Bảo quản tốt đồ thờ cúng.

Đề nghị:  Nên chăng khôi phục trò chơi Tổ tôm điếm và tục làm rượu nếp dâng Thành Hoàng.

Tài liệu tham khảo:

- Luật di sản.

- Khảo sát thực trạng văn hoá Lễ hội truyền thống của người Việt ở đồng bằng Bắc Bộ (Nhà xuất bản KHXH Hà Nội 2001)

(Nguồn: Lễ hội dân gian tỉnh Hải Dương)

Thư viện ảnh

Thăm dò ý kiến

Thống kê truy cập

Số lượt truy cập:
0
Số người đang online:
121

View Larger Map