Lễ hội chùa Vĩnh Khánh
(19/07/2012 10:36:58 CH)

Chùa được xây dựng với quy mô lớn vào thế kỉ 17 và được trùng tu nhiều lần vào thế kỉ 19 và đầu thế kỉ 20. Kiến trúc hiện nay chủ yếu mang dấu ấn của những thế kỉ này

Khoảng thời Tiền Lý, làng An Ninh có tên là Vãn Lộng trang, đây là nơi tụ cư của dân sống bằng nghề chài lưới trên sông Kinh Thầy. Đến thời Lê Trung Hưng, do hậu quả của cuộc chiến tranh Trịnh - Mạc dân tình ở các nơi phải bỏ quê hương đi tha phương cầu thực. Dân làng Vãn Lộng Trang cũng phải chạy ra vùng Vạn Ninh, Yên Quảng (Quảng Ninh ngày nay) để lánh nạn. Vãn Lộng trang tan vỡ từ đó.

Đến quê mới, dân chủ yếu sống bằng nghề đánh bắt hải sản, nghề nông bị thu hẹp vì không có điều kiện. Người ta đặt tên cho quê mới là "Vạn Ninh", đó cũng là ý tưởng, là nguyện vọng thiết tha muốn có cuộc sống yên ổn, lâu dài để làm ăn sinh sống. Vào những năm giữa thế kỷ 17 trở đi, tình hình chính trị xã hội Bắc Hà dần ổn định. Dân làng lưu tán ở Vạn Ninh lục tục kéo nhau về quê. Truyền thuyết về sử làng cũng nói về việc này như sau:

         "Lúc đầu trở về mới chỉ có 12 người đàn ông, họ đổ bộ lên một gò đất cao ven sông Kinh Thầy lập lên một cái bến. Hàng ngày cho thuyền ngược lên vùng ngã ba Lục Đầu (chỗ làng Lâu Khê) hoặc xuôi xuống khu vực Ba Kèo để đánh cá. Trên đất liền tại vùng này, lúc đó các làng xóm gần như không còn. Tất cả chỉ là một bãi rộng đầy lau, lác mênh mông, hoang dã. Dân các làng nhớ đất cũ làng mình thì dựng nền, cắm trại để ở. Còn lại đồng ruộng, đất đai mặc ai chiếm bao nhiêu thì chiếm. Các cụ làng ta vì mải mê sông nước quên cả việc chiếm thổ tạo điền. Vì vậy khi dân làng đông lên, dân ta rất ít ruộng. Trong khi đó các làng bên cạnh họ chiếm có chỗ gần sát chân tre làng mình.

Nơi đổ bộ này sau gọi là "Bến Đăng" (theo nghĩa của chữ đăng cá dưới sông) 12 vị này sau trở thành 12 tổ của 12 họ dòng lớn trong làng.

Để ghi nhớ một thời di cư ra vùng Yên Quảng, dân làng đặt tên cho làng mới là làng An Quảng.

Năm 1821, An Quảng được đổi thành An Ninh. Cuối thế kỉ 19 xã An Ninh được chuyển về huyện Thanh Lâm thuộc tổng An Ninh. Hiện nay An Ninh thuộc xã An Bình, huyện Nam Sách.

An Ninh là một làng cổ, có nhiều sự kiện và di tích lịch sử. Thần tích làng An Ninh cho biết "Đời vua Lý Nam Đế ở trang Vãn Lộng có ông Phạm Lương được bổ làm bộ chủ Châu Hoan". Sự kiện này cũng được ghi nhận trong truyền phổ ký:

Đến ông Lý Bí tài cao.

Mới xưng đế hiệu, phân mao oai hùng.

Sơn Đông - Nam Sách, một vùng.

Nhân dân trù mật, núi sông dị thường.

Có thôn là Vân Lộng Trang

Mà nay vẫn gọi là làng An Ninh

Một nơi sơn thuỷ hữu tình.

Qua sông sang đất Chí Linh cũng gần.

Có nhà tích đức tu nhân.

Kiệm cần liêm chính nhân dân kính nhường.

Đến đời thứ bốn Phạm Lương.

Sớm hôm lịch sử, văn chương dùi mài

Thiếu niên học hạnh toàn tài…

Chùa Vĩnh Khánh là một trong những di tích nổi tiếng được xây dựng tại An Ninh. Chùa cách sông Kinh Thầy 300m về phía Bắc, cách đường 183 khoảng 1,5km về phía Tây. Đây là vị trí khá thuận lợi để khách hành hương đến vãng cảnh chùa theo đường thuỷ và bộ. Theo "sự tích thành hoàng làng An Ninh" (viết năm Nhâm Thân - 1572) thì chùa có từ thời Lý (TK 11 - 12), đến thời Trần, tướng Nguyễn Huy Tĩnh đã đóng quân tại chùa để chặn quân Nguyên từ hướng sông Bạch Đằng đánh vào Thăng Long. Trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp, chùa là cơ sở của bộ đội địa phương. Thời kỳ chống Mỹ, đây là cơ sở quân y và hậu cần của Quân khu Ba. Một bộ phận chùa An Ninh một thời là sân kho hợp tác xã và trụ sở Uỷ ban nhân dân xã.

Chùa được xây dựng với quy mô lớn vào thế kỉ 17 và được trùng tu nhiều lần vào thế kỉ 19 và đầu thế kỉ 20. Kiến trúc hiện nay chủ yếu mang dấu ấn của những thế kỉ này. Chùa gồm nhiều công trình nhỏ, kiến trúc liên hoàn khép kín trên một diện tích trên 1000m2.

Chùa hướng đông nam, từ đường làng vào chùa qua một cầu gỗ có mái, gọi là thượng gia hạ kiều xây dựng vào năm Cảnh Hưng nguyên niên (1740). "Cầu dài 5 gian, hai đầu có hai chái bồ câu, lòng cầu lát ván gỗ, người gánh gồng đi lại dễ dàng. Hai bên có hai hàng hiên cao hơn lòng cầu khoảng một thước ta, cũng lát ván gỗ, để bà con ngồi bán hàng, rồi đến thành cầu có chấn song bảo vệ an toàn cho người làm bằng gỗ lim, lợp ngói gọi là quán Sư". Đến năm Cảnh Hưng thứ ba (1795) Thượng gia hạ kiều bị hư hỏng, người ta xây dựng một cầu đá thay thế. Nay cầu đã hư hại, chỉ còn vài cột đá chơ vơ dưới nước.

Qua cầu tới tam quan, vào một sân nhỏ, giữa sân có một gác chuông lớn, năm gian bít đốc, ba gian giữa chồng diêm, kiểu bốn mái cong, nơi treo quả chuông đúc năm Thành Thái thứ hai (1890) cao 120cm. Gác chuông có diện tích 128m2. Các vì chạm hoa lá, nét chạm sâu và mềm. Đây là một gác chuông vào loại kiến trúc chuẩn mực của thời Nguyễn muộn. Cách gác chuông 2m về phía sau là tiền đường 7 gian. Nối liền với tiền đường là ba gian tam bảo tạo thành hình chữ Đinh. Theo văn bia công trình này được xây dựng vào thời Chính Hoà (cuối thế kỉ 17) nhưng đã bị trùng tu nhiều lần. Các vì, các mảng điêu khắc đều được làm vào thời Nguyễn, dấu ấn thời Lê không còn.

Phía sau tam bảo là nhà Tứ ân.

Cách nhà Tứ Ân về phía sau 2m là nhà Tổ 7 gian. ở đây có tượng các nhà sư có công lớn với chùa và đã viên tịch tại đây.

Sau nhà Tổ, có một sân hẹp, tiếp đó là nhà Cung gồm 9 gian nhỏ.

Phía sau chùa là một vườn tháp gồm 9 ngôi, các tháp đều xây dựng vào thời Nguyễn.

Không tính những công trình đã mất, số hiện còn cũng có trên 80 gian lớn nhỏ. Các công trình đều làm bằng gạch thiết lâm, xây dựng, lợp ngói múi, chùa Vĩnh Khánh, là ngôi chùa thuộc thiền phái Trúc Lâm, có nhiều hạng mục công trình và nhiều gian nhất hiện còn trên đất Hải Dương với khuôn viên 21.000m2.

Cổ vật chùa Vĩnh Khánh khá nhiều, tuy đã bị thất lạc và huỷ hoại, nay vẫn còn với số lượng hàng trăm, trong đó có 57 pho tượng, 12 đại tự, 12 câu đối, 738 bản khắc kinh phật... trong số tượng phật có tượng Trúc Lâm Tam Tổ. Chùa còn 7 bia đá khắc dựng vào các năm Chính Hoà 22 (1701); Vĩnh Thịnh thứ hai (1706); Gia Long thứ 8 (1809)... đây là những trang lịch sử quý báu, qua đó có thể hiểu lịch sử ngôi chùa qua từng năm tháng.

Chùa Vĩnh Khánh có giá trị lớn về lịch sử và văn hoá mà tiêu biểu là kiến trúc và cổ vật. Từ ngôi chùa này, chúng ta có thể hiểu những ngôi chùa trăm gian tương tự cùng thời mà nay không còn. Trải qua hai cuộc chiến tranh, lại nằm trong vùng chiến tranh ác liệt, chùa Vĩnh Khánh còn lại đến hôm nay, tuy không trọn vẹn nhưng cũng là một sự may mắn, đồng thời cũng biểu hiện sự trân trọng của chính quyền và nhân dân địa phương đối với di tích. Từ ngày được xếp hạng (02//3/1990) di tích đã được bảo tồn khá tốt. Hiện nay, chùa đang được trùng tu với quy mô lớn, dự kiến sẽ khôi phục đủ 100 gian như lịch sử đã ghi nhận.

Theo thần tích thành hoàng lưu giữ tại chùa Vĩnh Khánh, hàng năm tại chùa diễn ra năm ngày hội lớn, quy định về nghi lễ như sau:

- Ngày sinh Công chúa 12 tháng 2 âm lịch: (tức ngày Đản sinh bà Phạm Thị Toàn - vị sư tổ đầu tiên của chùa Vĩnh Khánh đồng thời cũng là thành hoàng làng).

Dùng lễ chay (hương hoa, xôi, bánh). Ngày đầu rước kiệu lên Chùa làm lễ. Sau rước đến Đền Trấn quan (tức đền Nguyễn Tĩnh) tế lễ. Rồi sau đó rước về chính miếu tế lễ. Ca hát trong 3 ngày (Cử 8 thiếu nữ đồng phục quần áo đỏ để rước kiệu).

- Ngày hoá của Công chúa: (Tức ngày giỗ mồng 3 tháng 6 âm lịch).

Dùng lễ chay (hương hoa, xôi, bánh: 6 bàn) tế lễ. Không được ca hát.

- Ngày sinh của Trấn quan 12 tháng 8 âm lịch: (Tức Nguyễn Tĩnh - thành hoàng làng).

Lễ dùng lợn cả con, rượu ngọt, xôi trắng. Ngày đầu rước kiệu lên Chùa làm lễ. Sau rước đến đền Công chúa làm lễ, tế. Rồi sau đó rước về chính miếu tế lễ. Ca hát trong 3 ngày.

- Ngày hoá của Trấn quan: (Tức ngày giỗ Nguyễn Tĩnh 21 tháng 12 âm lịch).

Lễ dùng 8 sỏ lợn, 8 mâm xôi. Tế lễ, không được ca hát.

- Ngày khánh hạ:

Lễ dùng trâu bò, xôi rượu. Ngày đầu rước kiệu 2 thần lên Chùa làm lễ. Sau rước về chính miếu. Lễ dùng cua bể, trứng gà. xôi, bánh (ở đền Công chúa). Khi làm lễ phải đóng của cung. Hôm sau, 2 đền mở cửa làm lễ tiếp (ca hát 5 ngày).

Đầu thế kỷ 20, thì cả 5 ngày hội được quy về 1 ngày. Đó là ngày sinh của Công chúa 12 tháng 2 âm lịch. (Các ngày khác cũng có lễ nhưng quy mô nhỏ hơn). Vì thành hoàng làng được thờ tại Tổ đường chùa Vĩnh Khánh, đình làng xây dựng muộn (năm 1913) nên trước đây chùa Vĩnh Khánh là trung tâm văn hoá của làng, mọi hoạt động nghi lễ đều diễn ra tại đây, kể cả việc tế lễ thành hoàng.

Ngày lễ chính là 12 tháng 2, nhưng thông thường vẫn khai hội vào ngày 11. Hi hữu có những năm khai hội từ mồng 10. Quy mô lễ hội cũng không giới hạn. Gặp thời quốc thái dân an, mùa màng tươi tốt, dân tình no đủ thì thời gian mở hội kéo dài đến 10 ngày (từ 11 đến 20 tháng 2) gọi là "vào đám đẫy trà". Thời gian dài tất nhiên quy mô tổ chức sẽ lớn hơn. Nhưng thông thường (nhất là từ sau cách mạng tháng Tám năm 1945 đến nay) lễ hội chỉ kéo dài trong 3 ngày.

Bởi được coi là ngày lễ trọng đại nhất trong năm của làng. Nên xung quanh việc tổ chức ngày vào đám có rất nhiều công việc, thể chế, nhiều tục lệ buộc mọi người phải theo cho đúng, làm cho đủ.

- Về việc cử người chấp lễ.

Làng An Ninh có 8 giáp là:

- An Đoài 4 giáp: Đông Tả, Đông Hữu, Giáp Kính và Giáp Thuận.

- An Đông 4 giáp: Nghiêm Tả, Nghiêm Hữu, Nam Chung và Nam Thuần.

Họ bé thì nhiều họ làm 1 giáp, họ trung bình thì 2, 3 họ làm 1 giáp. Còn họ to như họ Nguyễn Danh thì chỉ 1 họ đã đủ số suất đinh làm 1 giáp.

Các giáp hàng năm căn cứ vào tiêu chuẩn chung của làng và phiên vụ của giáp mình mà cử ra một người làm tế đám (thông thường là luân phiên mỗi người đến tuổi công dân đền phải làm. Danh sách đã lập trước nhiều năm, cứ đến năm ấy là đã có người).

Khi chấp lễ trong ngày vào đám, tám trưởng giáp không thể dàn hàng ngang, mà phải đứng thành đội ngũ, người đứng trên, người đứng dưới (thông thường 8 trưởng được xếp thành 3 hàng): Trên cùng là 1 người (trưởng cả). Thứ đến là 2 người (trưởng 2, trưởng 3): Và sau cùng là 5 trưởng còn lại. Nhưng điều quan trọng hơn là ở chỗ, trong số 8 người kia chỉ có 1 trưởng cả (người đứng hàng đầu) được làm chủ lễ. Tức là làm các nghi lễ tế thần trong tế lễ. Giống như vai trò người con trưởng trong 1 gia đình gọi là "Người mệnh bái". Vị trí này được xem như một vinh dự đặc biệt đối với người nào được cử. Vì vậy trước kỳ vào đám hàng năm, vấn đề gay cấn nhất là ở việc cắt cử thứ bậc các trưởng giáp.

Thông thường vào ngày 29 Tết hàng năm làng tổ chức hội nghị "Cắt trưởng". Tham gia hội nghị này gồm các bậc kỳ hào, lý dịch, những người có học vị, chức sắc. Nói chung là những bậc kẻ cả trong làng. Cuộc cắt cử ngôi thứ trong 8 bậc tế đám diễn ra gay gắt chẳng khác gì 1 cuộc đấu tranh giành quyền lực ngoài xã hội. Người ta tỉa tót, xoi mói nhau từng li, từng tí. Cuối cùng chỉ những người giàu sang, có thế lực mới được làm trưởng cả, trưởng 2. Còn lại những người bình thường, thậm chí nghèo hèn, lép vế thì chỉ là trưởng 7, trưởng 8.

Trước khi nhận việc chấp lễ 1 năm, người trưởng giáp được hàng giáp giao cho cấy một số ruộng công điền. Tuỳ theo giáp nhỏ hay lớn mà có số ruộng nhiều hay ít. Hoa lợi của 2 vụ cấy đó trưởng giáp dùng làm kinh phí cho việc tế đám của mình. Thời gian này người ta gọi là "làm xeo làng".

Chi phí cho việc mua sắm nghi lễ thì nhiều. Nhưng việc quan trọng hàng đầu là trưởng giáp phải nuôi trong nhà 1 con lợn. Sao cho lợn phải thật là to, béo, sạch, đẹp gọi là "Lợn Anh" (bất quá thì trước ngày vào đám ít hôm phải mua một con to như thế về nhà nuôi, chăm sóc, cho ăn uống, tắm rửa thật sạch). Lợn này để tế vào ngày khai hội và tham gia hội "Chạy lợn".

Trưởng giáp cũng phải nuôi hoặc mua 1 con trâu, hoặc bò (tuỳ theo yêu cầu từng năm) để dùng làm lễ tế yến. Và sau rốt là một con lợn vừa phải, bình thường (không cầu kì như "Lợn Anh") để tham gia tuần tế rã đám gọi là lợn "Cọc" (khi tế chưa giết thịt, đem buộc chân vào cọc ở sân chùa nên gọi là lợn cọc).

Số trâu lợn này sau khi tế lễ đều đem giết thịt. Trưởng giáp phải "nộp" cho làng 1 số lượng nào đó (đã quy định rõ). Còn lại để dùng cho việc cỗ bàn ở nhà mình. Ngoài ra trưởng giáp còn phải chi phí cho việc mua sắm các loại lễ vật khác như đèn, hoa, hương, nến, cơm chay, cỗ vọng... và mọi phụ phí trong các ngày hội.

Có một tục lệ đặc biệt độc đáo chỉ có ở lễ hội chùa Vĩnh Khánh. Đó là các trưởng giáp ai cũng phải chuẩn bị trước món "Dưa hành và mắm ruốc". Hành là hành củ, bóc trắng ngâm với nước tro bếp cho thật trắng sạch, đem muối chua. Còn "ruốc" là loài sinh vật sống phù du ở miền nước lợ ven biển (dân chài vớt về nắm thành nắm đem bán để làm thức ăn). Ruốc được đem trộn muối làm thành một loại mắm đặc, nấu thơm ngon. Dưa hành chấm mắm ruốc ăn với thịt mỡ, vừa đỡ "ngấy" vừa giúp cho việc tiêu hoá tốt. Nhưng hơn thế, nó còn mang một ý nghĩa lịch sử và nhân văn sâu xa. Đó là: "Hành" (là sản vật của miền đồng bằng châu thổ, tức là sản vật của quê ta ngày nay), còn "Ruốc" (đó là hải sản vùng nước lợ ven biển, tượng trưng cho đất Vạn Ninh - nơi ngày xưa dân làng đã có 1 thời phải li tán ra ở nơi đó). Người ta lấy 2 thứ này để dâng cúng và để ăn, qua đó tỏ lòng thành kính với Thần, Phật và ghi nhớ kỷ niệm sâu sắc về một thời chìm nổi của lịch sử dựng làng. Bữa ăn đầu tiên phải có dưa hành mắm ruốc là vào ngày mồng 5 tháng 2 (trước vào đám 1 tuần). Ngày này người ta làm lễ cáo thần sau khi cắt cử người "phù giá". Tức là 1 cuộc họp của các giáp để phân công và bố trí lực lượng phục vụ việc tế lễ, rước sách trong ngày vào đám.

Ngày 29 tháng Chạp (giáp tết).

Là ngày "Cắt trưởng" tám trưởng của 8 giáp đã có rồi. Đến ngày này "2 dân" (tức các vị kỳ hào, lý dịch, chức sắc của 2 thôn An Đông và An Đoài) cùng đại diện 8 giáp tiến hành xem xét "lí lịch" của các trưởng để cắt ngôi thứ từ trưởng cả đến trưởng 8.

Ngày mồng 5 tháng 2.

Mọi việc chuẩn bị cho ngày vào đám đã được tiến hành trong mấy tháng liền. Đến ngày mồng 5 tháng 2 (tức chỉ còn 1 tuần là đến ngày vào đám) mọi việc về cơ bản đã xong. Ngày này làng họp các giáp để cắt cử, phân công, bố trí nhân lực trực tiếp thực thi các công việc trong lễ hội như: Người phù giá (khiêng kiệu rước thần), người cầm cờ, kéo ngựa, phụ trách từng việc trong lễ hội... Quan trọng nhất trong việc cắt cử này là mỗi giáp phải cử ra được 1 thiếu nữ đồng trinh (chưa chồng), con nhà tử tế, có nhan sắc và đức độ để phù giá Đức Bà (khiêng kiệu) 8 nữ đồng trinh này phải đồng phục quần áo đỏ (đã có sẵn). Còn lực lượng thanh niên phù giá Đức Ông, đóng quân binh hay những việc khác thì yêu cầu, tiêu chuẩn có bình thường hơn. Riêng những việc nặng nhọc như kéo ngựa, đùn xe, khiêng trống... thì con cái nhà nghèo hèn, những dân ngụ cư, sãi mõ phải đảm nhận. Vì những yêu cầu trên nên ngày cắt cử phù giá tuy không gay cấn, quyết liệt như ngày cắt trưởng, nhưng cũng không kém phần căng thẳng. Bởi vì ngày xưa chỗ đứng, chỗ ngồi, miếng ăn ở giữa làng đối với mỗi con người là cả một vấn đề về tư cách, về danh dự, về gia thanh, tộc thế.

Ngày mồng 10 tháng 2.

Chùa Vĩnh Khánh cùng các nghè, miếu được dọn vệ sinh sạch sẽ, phong quang. Đồ thờ tự, tế khí, xe kiệu, lọng tàn... được lau rửa sạch bóng, lắp ráp sẵn sàng. Đặc biệt là ở các gia đình trưởng giáp, không khí tấp nập, rộn rã vì đây được coi là 1 sự kiện "Đại hỉ" đối với 1 đời người. Tuy hàng giáp không ăn uống ở nhà trưởng mà chỉ lĩnh phần thịt đi tổ chức ăn ở nơi khác, nhưng nhà trưởng giáp vẫn phải bắc rạp, trang hoàng tổ chức ăn uống. Gặp những người giàu có, thế lực lại được lãnh nhiệm làm trưởng cả, trưởng 2 có khi còn tổ chức "khao" mừng. Vì vậy ngoài việc tắm rửa, xông hoa, tẩy rượu cho "Lợn Anh, Trâu Yến" còn phải mua sắm các đồ nghi lễ, quần áo tư trang cho trưởng. Mỗi trưởng còn phải cho 2 trẻ vị thành niên làm "hầu phòng".

Tóm lại là mọi việc chuẩn bị cho lễ hội về vật chất cũng như tinh thần đến ngày này đều phải hoàn tất.

Ngày khai hội (11/2) được mở đầu bằng đám rước. Từ sáng tinh mơ, chiêng trống mõ nổi lên rộn rã. Người từ các thôn, xóm, các xã lân cận nô nức đổ về xem rước. Đám rước được tiến hành vào lúc 7 giờ sáng từ 2 nơi thờ 2 vị Thành hoàng (tức là ở Mả Mồ và Cửa Nghè) lên Chùa Vĩnh Khánh.

Đi đầu đoàn rước là 1 lá cờ đại do 1 lão ông cao to, khoẻ mạnh vận quần áo lậu đỏ quấn "ghệt" đi hia cầm. Theo sau là 2 hàng cờ xí mỗi bên 8 ngọn do các nam thiếu niên đồng phục võ sinh cầm. Tiếp đến là phường bát âm với các nhạc cụ kèn, trống, đàn, sáo cử bài "lưu thuỷ". Sau phường bát âm là 2 con ngựa gỗ (1 hồng, 1 trắng) chân có bánh xe được kéo đẩy đi song hành. Sau ngựa là 2 đoàn quân đồng phục áo lậu, nón dấu, tay cầm xà mâu, chấp kích, vai vác mã tấu, long đao bước đi hùng tráng. Đây là đội thần binh có nhiệm vụ đi hộ tống xa giá các thần. Tiếp đến là kiệu lễ hoa quả và lễ mặn do những người mang trang phục lễ hội khiêng.

Đoàn rước chính gồm 2 kiệu sơn son thiếp vàng lộng lẫy. Mỗi kiệu có 8 người khiêng (riêng kiệu rước Thượng Đẳng Công chúa do 8 thiễu nữ đồng trinh mang trang phục quần áo đỏ phù giá đi đầu). Đi thứ 2 là kiệu rước tướng quân Nguyễn Tĩnh cũng do 8 trai tân khoẻ mạnh khiêng. Theo sau mỗi kiệu là đoàn của 8 vị trưởng giáp cùng các chức dịch, kì hào, trí thức. Kế đến là các bô lão, các cơ cánh và cuối cùng là nhân dân. Cả là 1 đoạn đường dài 500 - 700 m cờ xí rợp trời, long tàn rực rỡ, âm nhạc rộn ràng. Đây là 1 trong những nghi lễ đông vui, trang trọng nhất tại lễ hội.

Sau khi linh vị các thần được rước vào trong nhà Tổ, quan viên và các trưởng giáp tiến hành tuần tế "nhập tịch" (tức là mời các Thần lên ngai trị vị để bắt đầu lễ hội). Đây là nói về những năm vào đám "đẫy trà" (10 ngày). Còn những năm vào đám thông thường thì không có tuần tế này. Thay vào đó là tuần tế "Tỉnh Sinh" (tức là tế thần bằng lợn còn sống) để thi chạy lợn.

Theo quy định của làng, mỗi trưởng giáp khi nhận lễ vụ đều phải có 1 con lợn gọi là "Lợn Anh". Vào ngày khai hội, lợn được đóng vào một cái cũi mới, trang trí cờ hoa hoa thật đẹp do 6 thanh niên khoẻ mạnh, lực lưỡng đồng phục quần áo chẽn, đầu quấn khăn đỏ khiêng đến. Tám cũi lợn của 8 giáp xếp hàng chữ nhất (-) trước sân chùa, quan viên và 8 trưởng tiến hành tế "Tỉnh Sinh", mở đầu cho hội thi "Chạy lợn".

Dứt tuần tế, ông Trưởng ban tổ chức đứng trên một cái đài cao trước cửa chùa cầm chém rượu hất trên hàng cũi lợn, rồi phất cờ hiệu ra lệnh xuất phát. Tất cả 8 cũi lợn được khiêng lên, giáp nào chạy về giáp ấy. Người xem chen chúc 2 bên đường, reo hò cổ vũ cho giáp mình chạy nhanh, chạy khoẻ về nơi quy định. Tại một nơi quy định của mỗi giáp nước sôi, dao, thớt và mọi phương tiện đã được sắp sẵn. “Lợn Anh” được nhanh chóng giết mổ, cạo lông rửa sạch cắt lấy sỏ luộc chín. Sau đó lấy cuộn mỡ chài với cái đuôi cho ngậm vào miệng lợn quấn như cái khăn hoa mỏng đặt lên mâm nhanh chóng đem ra Chùa để tham gia tuần tế "Tể sinh" (tức là tế bằng lợn đã giết thịt). Trong cuộc chạy đua này, giáp nào làm nhanh, làm tốt nhất sẽ được giải thưởng.

Lưu ngôn của tiền nhân cho biết: Đây là một hình thức tái diễn lại cảnh dân làng Vãn Lộng trang nô nức đem trâu, bò, lợn, rượu ra để khao thưởng quan quân khi đánh thắng giặc Nguyên trở về. Với ý nghĩa nhân văn cao cả như vậy nên lễ tục này đã được duy trì qua nhiều năm, nhiều đời. Đến nay vẫn là sinh hoạt truyền thống đầy ấn tượng.

Ngày chính hội (12/2), trọng tâm của ngày này là tuần "Tế Yến". "Yến" tức là yến tiệc. Cũng là hình thức tái diễn lại cảnh ngày hội khao quân ở làng ta vào thời Trần.

Tham gia tuần "Tế Yến", xưa kia mỗi giáp phải chuẩn bị lễ vật bằng 1 con trâu hoặc bò. Trâu, bò làm thịt, cạo sạch lông, thui vàng, moi hết tạng phủ, để nguyên cả con. Tám trâu bò đặt ở thế quỳ gối, sừng cất cao, đuôi cong vắt vẻo xếp hàng chữ "Nhị" (=) trước sân Chùa. Xung quanh có hàng rào lính mặc áo nậu, đội nón chóp đỏ, tay cầm binh khí (bằng gỗ sơn son thiếp vàng) đứng bảo vệ.

Ngoài 8 lễ "mặn" như trên, còn phải sửa 6 mâm lễ "chay" gồm hoa quả, xôi chè, bánh trái. Đặc biệt nhất thiết phải có 2 thứ là trứng gà và cua bể. Hai sản vật này cũng tượng trưng cho 2 miền quê là đồng bằng châu thổ (tức làng An Ninh hiện nay - gà) và vùng duyên hải Vạn Ninh (nơi li tán ngày xưa - cua bể), giống như món "dưa hành mắm ruốc" vậy.

Tuần tế Yến kéo dài trong khoảng hơn 1 giờ đồng hồ. Sau đấy giáp nào về giáp ấy ẩm thực.

Ngày rã đám: Nếu vào đám "đẫy trà" (10 ngày) thì rã đám vào ngày 20/2. Lễ chính của ngày này là tuần tế "Rã" (tức là tổng kết đám). Lễ vật gồm 8 con lợn sống (chừng 30 - 40kg), mỗi con được cột vào một cái cọc đóng giữa sân Chùa. Vì vậy gọi là "Lợn cọc". Đây cũng là tuần tế "Tỉnh Sinh" (tế bằng lợn sống) và cũng là một cảnh trong cuộc đại khao quân ngày xưa.

Mỗi kỳ lễ hội dù diễn ra mấy ngày thì dân làng cũng vẫn tổ chức nhiều trò chơi dân gian đặc sắc như: đánh vật, chọi gà, đu tiên, cờ tướng… trong những sinh hoạt văn hoá trên, đáng chú ý nhất là trò chơi cờ người, tam cúc điếm, và hát chèo.

Cờ người: không phải chơi trên một bàn cờ nhỏ, mà chơi trên cả một bãi rộng khoảng 1 sào ruộng trong khuôn viên chùa. Quân cờ là những bảng gỗ khắc chữ nổi, có cán dài sơn son thếp vàng. Mỗi quân có một người vận y phục sặc sỡ cầm và đứng ở vị trí được sắp xếp trên bàn cờ. Hai bên dàn thế trận bằng người thật. Kỳ thủ đứng trên chòi cao điều khiển trận đấu. Ban giám khảo cũng ngồi trên chòi cao dùng trống làm hiệu lệnh thắng, thua. Giải thưởng cho người thắng chỉ là vuông vải hay vài đồng tiền xu nhưng đó là cả một niềm tự hào.

Tam cúc điếm: Cũng dùng người thật làm quân. Tướng, sỹ, tượng, xe được phục trang như quân tam cúc. Người chơi cũng ngồi trên chòi cao dùng trống để làm hiệu ra quân. Trò chơi này thường thu hút đông đảo các cụ già tham dự.

Trong các buổi tối diễn ra lễ hội, hôm nào cũng có các hoạt động văn nghệ, đặc biệt là hát chèo: các gánh chèo ở trong thôn và các nơi được mời về, những tích chèo truyền thống như Tấm Cám, Trương Viên, Lưu Bình - Dương Lễ... được diễn ngay tại sân chùa thu hút hàng nghìn người nô nức đi xem. Sau những đêm hát chèo này năm nào cũng có một vài đôi trai gái lên vợ lên chồng.

Ngoài ra, các nhà sư thường tổ chức tụng kinh niệm phật vào buổi tối diễn ra hội.

Lễ hội chùa Vĩnh Khánh đã thu hút tăng ni, phật tử ở hầu hết các chùa trong tỉnh. Dân chúng nhiều nơi ở các địa phương lân cận cũng nô nức về dự. Khuôn viên nội tự chùa đã khá rộng vậy mà còn phải kéo ra khỏi cổng rộng hàng trăm mét. Hàng chục Hội, Đoàn, cơ cánh đến hầu bóng, hát văn. Những gánh hát chèo nghiệp dư, những hội hát quan họ bán chuyên ở các nơi kéo về thi nhau công diễn suốt ngày đêm ở ngoài sân, trong nhà, dưới tán cây và cả trên mặt nước ao chùa. Các trò chơi dân gian thu hút đủ mọi lứa tuổi. Họ vừa xem, vừa trực tiếp tham gia. Một cuộc sinh hoạt văn hoá dân gian vừa đa dạng, vừa phong phú, vừa lành mạnh diễn ra suốt mấy ngày liền.

Lê Duy Mạnh

Thư viện ảnh

Thăm dò ý kiến

Thống kê truy cập

Số lượt truy cập:
0
Số người đang online:
570

View Larger Map