Đền Chợ Cháy - Cẩm Chế, huyện Thanh Hà, tỉnh Hải Dương
(30/03/2011 12:00:00 SA)

Đền Chợ Cháy thuộc xã Cẩm Chế, huyện Thanh Hà, tỉnh Hải Dương. Đền có tên “Chợ Cháy”, xuất phát từ việc bà Hoàng Thị Hồng, sau khi lấy vua Lý Anh Tông, trở thành Thái hậu về thăm quê, lập ra chợ Cẩm Chế

 Trên đường về kinh, không may Bà mất trên đường. Nhà vua giận dữ sai quân đốt chợ, vì vậy chợ Cẩm Chế được gọi là Chợ Cháy. Sau khi mất, nhân dân địa phương lập đền thờ bà gần Chợ Cháy, nên được gọi là đền Chợ Cháy. Ngoài ra, đền còn có tên chữ là đền thờ “Thái hậu triều Lý”, đây là cách gọi tỏ sự trân trọng của nhân dân địa phương. Di tích đã được Uỷ ban nhân dân tỉnh Hải Dương ra Quyết định số 629/QĐ- UBND ngày 7 tháng 2 năm 2005 xếp hạng di tích đền Chợ Cháy là di tích lịch sử- văn hoá cấp tỉnh.

Căn cứ vào tài liệu điền dã, khảo sát và các tài liệu lưu giữ tại địa phương cho biết: Vào thời Lý, vùng đất Cẩm Chế gọi là Đìa La Trang, có 3 khu: Khu Thượng, khu Trung và khu Hạ. Sang thời Lê, 3 khu của Đìa La Trang được phân chia thành 4 thôn: Nhân Lư, Du La, Phương La và Kỳ Tây. Đến thời Nguyễn, do việc phân chia của chính quyền phong kiến, nên 4 thôn này thuộc địa phận hai xã Nhân Lư và Du La. Xã Du La gồm 3 thôn: Du La, Phương La và Kỳ Tây. Nhân Lư là một xã riêng. Hai xã này thuộc tổng Du La, huyện Thanh Hà, phủ Nam Sách, tỉnh Hải Dương. Đầu năm 1946, sau Cách mạng tháng Tám thành công, hai xã Du La và Nhân Lư sáp nhập, lấy tên là xã Cẩm Chế cho đến nay.

Cẩm Chế là miền quê trù phú, vùng đất này được bồi đắp do phù sa sông Văn Úc từ nhiều thế kỷ trước, đất đai màu mỡ, con người thuần hậu, cần cù lấy nghề cấy lúa, làm vườn là nghề chính của mình. Trong những năm gần đây do chuyển đổi cơ cấu, nông nghiệp ở Cẩm Chế đã có nhiều thay đổi, diện tích cấy lúa giảm, diện tích lập vườn tăng cao. Cùng với phát triển nông nghiệp, các hoạt động dịch vụ, buôn bán phát triển mạnh, đời sống nhân dân ngày càng được cải thiện.

Cẩm Chế là địa phương có nhiều di tích lịch sử - văn hoá. Trước Cách mạng tháng Tám, mỗi thôn đều có đình, chùa, đền, miếu. Thôn Nhân Lư có đình Nhân Lư, trước đây thờ tà thần, về sau ông Phạm Quí Công trợ giáo khâm sai tỉnh Hải Dương và An Quảng, đề xuất với dân làng rước bài vị, bát hương Lý Thường Kiệt về thờ. Thôn Nhân Lư còn có chùa Linh Quang, được trùng tu thời Nguyễn, hiện còn lưu giữ nhiều tấm bia hậu có mái che khá đẹp. Thôn Phương La có đình thờ Thành hoàng làng là Hoàng Trung Công, Hoàng Chí Công, có chùa Thọ Sơn. Thôn Kỳ Tây có đình thờ Hoàng Uy Công, là em Hoàng Trung Công, Hoàng Chí Công. Đây là ba anh em ruột có công giúp Đinh Bộ Lĩnh dẹp loạn 12 sứ quân. Thôn Du La có đình thờ hai vị phúc thần có công giúp vua Lý đánh giặc Tống xâm lược (Thế kỷ XI). Đền Chợ Cháy là nơi sinh hoạt tín ngưỡng chung của cả 4 thôn, các di tích trong xã đã bị huỷ hoại nhiều do chiến tranh và thiên nhiên, hiện nay đã được khôi phục lại.

Đền Chợ Cháy tôn thờ Thái hậu triều Lý Hoàng Thị Hồng, thông qua hệ thống bia ký, sắc phong, câu đối, đại tự, bài vị và các tài liệu có liên quan cho biết:

Bà Hoàng Thị Hồng có 2 người em gái là Hoàng Thị Quỳnh, Hoàng Thị Quế, ba chị em là con gái của cụ Hoàng Thiện và Lê Thị Thanh, người làng Du La. Xuất thân từ nhà nông, thuở nhỏ bà chăm chăn trâu, cắt cỏ, lớn lên chăn tằm dệt lụa.

Vào năm Tân Mão (1171), vua Lý Anh Tông đi kinh lý miền duyên hải, khi qua vùng đất này, thấy cảnh đẹp dừng lại nghỉ ngơi. Bỗng nghe tiếng hát hay từ đâu vọng lại, vua sai quân lính đi tìm. Mọi người sợ hãi chạy trốn, riêng Bà vẫn bình thản hái dâu, miệng vẫn không ngơi câu hát. Thấy vậy, vua Lý cho vời đến hỏi, Bà đáp lại rất kính cẩn và lưu loát. Thấy cô gái vừa đẹp người, đẹp nết, lại thông minh, vua Lý liền đưa Bà về triều và chọn làm thứ phi.

Được một thời gian, Bà xin phép nhà vua cho về thăm quê hương, bản quán. Bà liền dùng tiền vua ban để lập chợ, giúp đỡ dân nghèo, đắp đường, bắc cầu, xây cống. Tính cách bà vẫn hiền hoà, gần gũi với làng mạc, xóm giềng.

Tương truyền: Trước khi về thăm quê, Bà đã có thai với nhà vua nhưng không biết. Khi trở lại kinh đô, qua 1 làng nhỏ ở xứ Kinh Bắc, dừng lại nghỉ chân ở một quán nhỏ, bà hàng nước tâu rằng: Đức Bà đã có thai với nhà vua, nếu không báo với quan Thái giám thì sẽ mắc tội”. Bà lo sợ, quây màn tắm và tự vẫn dưới hồ, Thị tỳ tìm mãi không thấy thi hài. Dân làng ở nơi Bà mất thấy linh thiêng đã lập đền thờ cúng.

Khi nghe tin Bà mất, nhà vua tức giận vì cho phép vợ về quê mà mất vợ, mất con, lập tức sai lính về đốt chợ, sau dân gọi chợ này là Chợ Cháy. Khi được biết Bà mất tại đất khách quê người và cảnh quân lính về đốt chợ, dân làng lập biểu tâu trình với nhà vua. Thấy rõ ngọn nguồn, vua Lý cho lập lại chợ khang trang hơn. Đồng thời, sai người chở gỗ về xây dựng đền thờ, cấp tiền, ruộng để thờ cúng, miễn giảm sưu thuế cho dân làng.

Căn cứ vào tài liệu khảo cổ học, hệ thống bia ký, sắc phong, câu đối, đại tự, Hương ước của làng Phương La, Du La lập vào năm 1931, cho biết: Đền Chợ Cháy được khởi dựng vào thời Lý (thế kỷ XII). Năm 1997, tại khu đền đã tìm được 4 viên gạch có niên đại thời Lý, điều này chứng tỏ rằng từ thời Lý đã có công trình tín ngưỡng khá lớn tại đây. Đương thời, dưới triều Nguyễn đền được xây dựng trên thế đất đẹp, công trình gồm 5 gian tiền tế đao tàu déo góc, 3 gian trung từ và 3 gian hậu cung. Sân đền rộng và có nhiều cây cổ thụ, có cột đồng trụ uy nghi. Đến năm kháng chiến chống Pháp, đền bị phá dỡ phần lớn, bị hư hại do thiên nhiên và về sau bị huỷ hoại hoàn toàn.

Năm 1997, dưới sự chỉ đạo của chính quyền địa phương và nguyện vọng của quần chúng nhân dân, ngôi đền mới đã được dựng trên nền móng của ngôi đền cũ. Công trình được tái tạo từ hai nếp nhà cũ, chất liệu bằng gỗ lim. Di tích có kiến trúc kiểu chữ Đinh (J) gồm 5 gian tiền tế và 3 gian hậu cung.

Toà tiền tế đao tàu déo góc dài 14,15m, rộng 5,9m. Phần mộc toà nhà này kết cấu khá độc đáo, 3 gian chính gồm 4 vì kèo trong đó 2 vì gian trung tâm có kết cấu kiểu “kẻ chuyền giá chiêng”. Tại 2 vì kèo này có các chi tiết chạm khắc khá đơn giản, các con thuận trên câu đầu có chạm “lá lật”, đường nét mềm mại. Hai vì kèo gian bên lại có kết cấu khác, nghĩa là toàn phần các con thuận, trụ và các con chồng đều được tạo từ mảng chạm khắc với hoa văn hoa cúc dây và những chữ thọ tròn. Trên xà nách chạm lá lật hai mặt. Nhìn chung các chi tiết mộc của tòa tiền tế nhỏ, nhưng chắc chắn do chất liệu là gỗ tứ thiết, trong đó gỗ lim là chủ yếu.

Hậu cung dài 7,1m, rộng 5,35m nối liền toà tiền tế, công trình cũng được tạo ra từ nếp nhà cũ, kỹ thuật chủ yếu bào trơn đóng bén, nhưng chắc chắn và không bị xô lệch.

Đền Chợ Cháy là công trình đẹp, mái lợp ngói mũi truyền thống, các góc đao có phù điêu “lá đề”, “rồng chầu phượng mớm”, trên bờ nóc mô phỏng phù điêu rồng mang phong cách thời Lý chầu nguyệt khá sinh động.

Trong những năm gần đây, nhiều hạng mục công trình được tôn tạo như cột đồng trụ, nhà bia, sân đền, tường bao đã làm cho khu di tích khang trang hơn, đáp ứng nguyện vọng của nhân dân địa phương.

Khi chưa bị phá dỡ, di tích có khá nhiều cổ vật, di vật và đồ thờ tự. Trải qua chiến tranh và thiên nhiên tàn phá, một số cổ vật được nhân dân cất giấu, giữ gìn, nay là những cổ vật có giá trị của di tích. Hiện nay, di tích còn lưu giữ 3 tấm bia đá, trong đó có 1 tấm bia “Nhị xã bảo hậu” được khắc dựng vào tháng 7 năm Quang Trung thứ 4 (1791), bia “Nhị xã bi ký” khắc dựng dưới thời vua Tự Đức (1848 - 1853), bia “Hậu thần bi ký” khắc dựng vào năm Thành Thái thứ 5 (1893). Ngoài ra, di tích còn lưu giữ được một số cổ vật có chất liệu gỗ gồm bát biểu, long đình, khám thờ, bài vị, hòm sắc và thần tượng bà Hoàng Thị Hồng, các cổ vật đều có niên đại thời Nguyễn. Đặc biệt, trong di tích còn 1 sắc phong thời Quang Trung 1 chuông đồng và nhiều đồ tế tự do nhân dân địa phương công đức và mua sắm.

Trước Cách mạng tháng Tám năm 1945, tại xã Cẩm Chế có nhiều đình, chùa, miếu ở riêng các thôn. Nhưng ở 4 thôn có chung một ngôi đình và một ngôi đền, nằm tại thôn Du La. Vào lễ hội mùa xuân, bắt đầu từ sáng ngày mùng 6 tháng 2 âm lịch, cả 4 làng tập trung tại đền, sau đó rước ngai, tượng, bài vị ra đình (gọi là đình Tứ Xã, vị trí tại trụ sở UBND xã Cẩm Chế hiện nay) để làm lễ. Lễ hội chủ yếu diễn ra tại đình, từ chiều ngày mùng 6 đến tối ngày mùng 10, cả 4 làng đều có trách nhiệm với lễ hội. Trong các ngày lần lượt các làng vào tế, tục tế “tam sinh” được diễn ra trong mỗi kỳ lễ hội. Cùng với các hoạt động tế lễ là các trò chơi dân gian như đấu vật, cờ người, tổ tôm điếm, đi cầu thùm... Các buổi tối có hát chèo, hát tuồng cổ.

Đặc biệt, trong lễ hội có tục “luồn kiệu”, tục này được diễn ra khi đoàn rước đi từ đền sang đình, có một số bà mẹ bế con nhỏ luồn qua kiệu bà Hoàng Thị Hồng, cầu mong Bà phù hộ cho con khoẻ mạnh, nhanh lớn (tục này đến nay vẫn còn).

Sau 4 ngày tổ chức lễ hội tại đình Tứ Xã, sang ngày 11 tháng 2 đoàn rước kiệu lại trở về đền và làm lễ yên vị, kết thúc lễ hội.

Lễ hội đền Chợ Cháy được diễn ra đến trước cuộc kháng chiến chống Pháp. Năm 1947, đình Tứ Xã đã bị tiêu thổ kháng chiến, đền Chợ Cháy bị mục nát, sau dỡ bỏ, từ đó lễ hội bị gián đoạn. Năm 1997, sau 50 năm, lễ hội được tổ chức do đền được khôi phục lại. Thời gian diễn ra lễ hội vào 2 ngày mùng 6 và mùng 7 tháng 2. Trong lễ hội có rước kiệu, long đình qua 4 thôn trong xã, tổ chức lễ dâng hương và tế thánh. Tổ chức các trò chơi dân gian như đấu vật, kéo co, đánh cờ, rối nước, hát chèo...Lễ hội đền Chợ Cháy là sinh hoạt tín ngưỡng của nhân dân địa phương, thu hút nhân dân trong vùng tham gia.

Để phát triển khu di tích, Ban quản lý do ủy ban nhân dân xã trực tiếp chỉ đạo, trong thời gian tới sẽ qui hoạch tổng thể, từng bước xây dựng khu di tích khang trang, đẹp đẽ, thông qua đó để giáo dục truyền thống yêu nước cho thế hệ hôm nay và mai sau.

Theo: Hải Dương di tích và danh thắng

Thư viện ảnh

Thăm dò ý kiến

Thống kê truy cập

Số lượt truy cập:
359826
Số người đang online:
211

View Larger Map